Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Kiệt quệ tài chính 2. Khái niệm kiệt quệ tài chính Kiệt quệ tài chính (financial distress), theo Altman và cộng sự (2006) là một thuật ngữ có thể được hiểu là dựa trên bốn thuật ngữ chung thường được dùng trong nghiên cứu: thất bại kinh doanh, mất khả năng thanh toán, phá sản và vỡ nợ.
Mặc dù các giai đoạn này không phân biệt rõ ràng, đôi khi còn có những điểm tương đồng với nhau nhưng đó chính là vấn đề cốt lõi của “kiệt quệ tài chính”. Thất bại: Altman và cộng sự (2006) cho rằng, một doanh nghiệp được xem là thất bại khi tỷ suất sinh lợi thực tế trên vốn đầu tư, cùng với các tỷ số khác dùng để đánh giá rủi ro của doanh nghiệp liên tục thấp hơn so với các mức đầu tư kỳ vọng tương đương trên thị trường, hoặc doanh thu không bù đắp đủ chi phí của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, mặc dù doanh nghiệp có doanh thu nhưng chưa đủ để bù đắp cho những khoản chi phí hoặc tỷ suất sinh lợi thực trên vốn đầu tư thấp hơn so với tỷ số của các đầu tư tương đương trên thị trường thì cũng chưa chắc được xem là thất bại vì trên thực tế doanh nghiệp trong tình huống này cũng có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh nếu các nhà đầu tư đồng ý chấp nhận mức tỷ suất sinh lợi thấp. Vì vậy, rất khó để kiểm định việc một doanh nghiệp đối mặt với tình huống ở trên như là một doanh nghiệp bị kiệt quệ tài chính.
Bên cạnh đó, một doanh nghiệp được xem là thất bại khi dòng tiền của doanh nghiệp không đủ để doanh nghiệp thực hiện được các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng với các chủ nợ, với người lao động, hoặc việc doanh nghiệp phải gánh chịu tổn thất từ quá trình pháp lý diễn ra dai dẳng (Wruck, 1990). Thất bại của doanh nghiệp được chia làm hai loại, đó là thất bại kinh tế (Economic Failure) và thất bại tài chính (Financial Failure). Theo Andrade và cộng sự (1998), một doanh nghiệp được xem là thất bại về tài chính là khi doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ trả lãi vay và nợ gốc cho chủ nợ, còn thất bại kinh tế là khi doanh nghiệp bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh. 6 Ở một quan điểm phổ biến khác, thất bại tài chính được định nghĩa là việc doanh nghiệp bất lực trong việc hoàn thành các nghĩa vụ nợ.
Tuy nhiên, một doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán các khoản nợ cũng có thể xảy ra ngay cả khi doanh nghiệp có giá trị tài sản ròng dương (Gauhan, 2011). Như vậy, có thể hiểu rằng ngoài tình trạng bất lực của doanh nghiệp trong việc trả nợ, thì tình trạng khó khăn của doanh nghiệp trong việc thanh toán các khoản nợ cũng được xem là thất bại tài chính. Cuối cùng, cần xác định rằng thất bại tài chính không đồng nghĩa với phá sản hay giải thể. Bởi vì, tất cả các doanh nghiệp khi gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh đều phải trải qua thất bại tài chính và thất bại kinh tế, nhưng chỉ có một số các doanh nghiệp trong số đó đi đến phá sản hay giải thể, chứ không phải là tất cả.
Mất thanh khoản: là một dạng khác của thất bại hoạt động kinh doanh và kiệt quệ tài chính. Một doanh nghiệp mất thanh khoản có thể được định nghĩa là doanh nghiệp không đủ khả năng để hoàn thành các nghĩa vụ tài chính bao gồm tất cả các khoản nợ đối với người lao động, nhà cung cấp, chủ nợ (Shrader và cộng sự, 1993). Định nghĩa trên giống với định nghĩa thất bại tài chính của Whitaker (1999) và Wruck (1990). Trong thực tế, Wruck (1990) nhấn mạnh rằng, mặc dù doanh nghiệp mất thanh khoản là khác biệt so với thất bại tài chính, nhưng hai khái niệm này vẫn được sử dụng thay thế cho nhau.
Wruck (1990), Ross và cộng sự (2003) chia nguyên nhân mất thanh khoản thành 2 dạng: mất thanh khoản do giá trị và mất thanh khoản do dòng tiền. + Mất thanh khoản do giá trị là việc mất khả năng thanh khoản xảy ra khi giá trị thị trường các tài sản của doanh nghiệp thấp hơn so với giá trị các khoản nợ, theo đó, trường hợp này còn được hiểu là giá trị kinh tế ròng âm. + Ngoài ra, kiệt quệ tài chính cũng có thể bắt nguồn từ mất khả năng chi trả dựa trên dòng tiền; có nghĩa là, doanh nghiệp không thể tạo ra đủ dòng tiền để đảm bảo các nghĩa vụ tài chính hiện tại. Trường hợp này còn gọi là mất thanh khoản kỹ thuật.
7 Vỡ nợ: vỡ nợ xảy ra khi doanh nghiệp không thể trả được nợ gốc, lãi vay đối với các chủ nợ khi các khoản này đến hạn thanh toán, và điều này làm cho các doanh nghiệp vi phạm hợp đồng dẫn đến các hành động pháp lý (Altman và cộng sự, 2006). Gilson và cộng sự, (1990), Altman và cộng sự (2006) phân loại vỡ nợ thành hai loại là vỡ nợ kỹ thuật và vỡ nợ thanh toán. Vỡ nợ thanh toán xảy ra khi doanh nghiệp không thể trả được nợ gốc và lãi đến hạn. Trong khi, vỡ nợ kỹ thuật xảy ra khi doanh nghiệp vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng.
Phá sản: phá sản là việc doanh nghiệp đệ đơn phá sản chính thức lên tòa án và được tòa án phê duyệt cho phép doanh nghiệp thực hiện phá sản. Lúc này doanh nghiệp sẽ có ba hướng: thứ nhất, doanh nghiệp có thể phát hành thêm nguồn vốn cổ phần mới; thứ hai, thực hiện tái cấu trúc bằng các thỏa thuận về các khoản nợ với các chủ nợ nhằm kéo dài thời hạn thanh toán hoặc đàm phán về các khoản lãi suất; thứ ba, là doanh nghiệp có thể sáp nhập với các doanh nghiệp khác. Dựa trên các quan điểm trên, có thể kết luận rằng, kiệt quệ tài chính là tình trạng xảy ra khi doanh nghiệp không thể đáp ứng hoặc có đáp ứng nhưng đáp ứng một cách khó khăn các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng đối với các chủ nợ – Trường hợp này gọi là thất bại tài chính; hoặc kiệt quệ tài chính là tình trạng xảy ra khi doanh nghiệp có doanh thu không đủ bù đắp chi phí hoặc tỷ suất sinh lợi thực tế trên vốn đầu tư thấp hơn liên tục và đáng kể so với các tỷ số đầu tư tương đương trên thị trường – Trường hợp này gọi là thất bại kinh tế; hoặc kiệt quệ tài chính là tình trạng xảy ra khi doanh nghiệp không tạo ra đủ dòng tiền ròng để đảm bảo các nghĩa vụ tài chính hiện tại – Trường hợp này gọi là mất thanh khoản kỹ thuật; hoặc kiệt quệ tài chính là tình trạng xảy ra khi giá trị thị trường của các tài sản của doanh nghiệp thấp hơn so với giá trị các khoản nợ – Trường hợp này gọi là mất thanh khoản do giá trị; hoặc kiệt quệ tài chính là tình trạng xảy ra khi doanh nghiệp không thể trả được các khoản nợ gốc hay lãi vay đối với các chủ nợ khi chúng đến hạn – Trường hợp này gọi là vỡ nợ. Tổng hợp tất cả quan điểm trên về kiệt quệ tài chính, Aktan (2011) đã đưa ra quan điểm cho thấy, một doanh nghiệp được xem là kiệt quệ tài chính khi xảy ra tình trạng thua lỗ 3 năm liên tiếp, hoặc có vốn chủ sở hữu âm, hoặc doanh nghiệp phải 8 bán hết tài sản để trả nợ và lãi vay rồi giải thể, hoặc được tòa án chấp thuận phá sản.
Nghiên cứu này sẽ dựa trên quan điểm Aktan (2011) để xác định một doanh nghiệp là kiệt quệ tài chính khi lựa chọn mẫu nghiên cứu. Phân loại kiệt quệ tài chính • Kiệt quệ tài chính theo sự kiện Đầu tiên, kiệt quệ tài chính được hiểu theo cách đơn giản là sự thất bại hay phá sản. Kiệt quệ tài chính có nhiều biểu hiện khác nhau phụ thuộc vào các sự kiện khác nhau như phá sản, không thể chi trả các khoản nợ trái phiếu, không thể chi trả cổ tức cho cổ đông. Các định nghĩa tương tự cũng được tìm thấy ở các nghiên cứu của Andrade và cộng sự (1998) và Opler và cộng sự (1994).
• Kiệt quệ tài chính theo quá trình Tiếp theo, Gordon (1971) đã phát triển định nghĩa kiệt quệ tài chính là một quá trình, theo sau là phá sản và quá trình tái cấu trúc. Khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính thì khả năng tạo ra thu nhập bị giảm sút và tổng nợ lớn hơn giá trị tài sản của doanh nghiệp. Kiệt quệ tài chính được hiểu là tỷ suất sinh lợi từ trái phiếu của doanh nghiệp thấp hơn lãi suất phi rủi ro, lúc nào doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc huy động nguồn tài trợ từ bên ngoài. Purnanandam (2008) đã xây dựng mô hình quản trị rủi ro bao gồm cả nội dung về kiệt quệ tài chính.
Tác giả đã xem xét mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và khả năng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp. Khi một công ty vi phạm các điều khoản trả nợ và trễ hạn trả lãi các khoản vay thì rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính. Công ty chuyển từ trạng thái có khả năng thanh toán sang mất khả năng thanh toán khi giá trị gốc của các khoản nợ lớn hơn giá trị tài sản công ty. Theo đó, định nghĩa này nhấn mạnh kiệt quệ tài chính không phải tình trạng vỡ nợ hay phá sản mà hậu quả này có thể được dự báo từ các thời kỳ kiệt quệ tài chính trước đó.
Gilbert và cộng sự (1990), Ward và cộng sự (1997) và Pindado và cộng sự (2005) cũng ủng hộ quan điểm này. • Kiệt quệ tài chính theo kỹ thuật 9 Nhóm cuối cùng trong việc định nghĩa kiệt quệ tài chính là dựa vào các tỷ số tài chính. Các tác giả dựa vào các thông tin kế toán trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp bằng các tính toán kết hợp các chỉ số với nhau rồi so sánh với một tỷ số chuẩn để đánh giá doanh nghiệp có rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính hay không. Các chỉ số về lợi nhuận, nợ, thanh khoản thường được kết hợp sử dụng để quy về một chỉ số chung.
Phương pháp được sử dụng phổ biến nhất vì dữ liệu sẵn có dễ dàng, kỹ thuật tính toán đơn giản.