Chương 1: Giới thiệu đề tài, trong chương này đề tài sẽ nêu ra cơ sở cho việc chọn đề tài, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đóng góp của đề tài và bố cục của đề tài. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây, trong chương này đề tài sẽ tập trung nêu lên kết quả của các nghiên cứu trước đây có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trong chương này đề tài nêu ra cơ sở dữ liệu để thực hiện nghiên cứu, cách đo lường các biến, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu của đề tài. Chương 4: Kết quả nghiên cứu, trong chương này đề tài thực hiện phân tích dữ liệu nghiên cứu và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu được nêu ra trong chương 3.
Chương 5: Kết luận, trong chương này đề tài nêu tóm tắt lại các vấn đề nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu chính của đề tài, những hạn chế mà đề tài chưa thực hiện được và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. 123doc 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Tác động của quản trị vốn luân chuyển đến thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu thực hiện các nghiên cứu về tác động của quản trị vốn luân chuyển đến thành quả hoạt động của doanh nghiệp trong những môi trường kinh tế khác nhau.
Mỗi nghiên cứu tại mỗi quốc gia đưa ra kết luận khác nhau về mối tương quan giữa quản trị vốn luân chuyển và thành quả của doanh nghiệp, một số nghiên cứu nổi bật đại diện cho tác động này như sau: Shin và Soenen (1998) cho rằng, mặc dù Kmart1 và Walmart2 có cấu trúc vốn tương tự nhau trong năm 1994 nhưng Kmart đã bị phá sản vì hiệu quả quản trị vốn luân chuyển yếu kém, Kmart đã có chu kỳ chuyển đổi tiền mặt khoảng 61 ngày trong khi Walmart chỉ có 40 ngày, kết quả là Kmart phải đối mặt với 193,3 tỷ đôla chi phí tài trợ mỗi năm. Cũng trong nghiên cứu của mình, Shin và Soenen (1998) cho rằng có tồn tại mối liên hệ giữa các cách ước tính lợi nhuận khác nhau và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt- đo lường hiệu quả của quản trị vốn luân chuyển trong doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy chu kỳ chuyển đổi tiền mặt có tác động làm giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp Mỹ trong giai đoạn 1975-1994. Nghiên cứu của Shin và Soenen (1998) tuy không cung cấp các bằng chứng trực tiếp nhưng đã hàm ý rằng các doanh nghiệp quản trị vốn luân chuyển càng hiệu quả thì dòng tiền hoạt động và thành quả hoạt động của doanh nghiệp càng cao.
Deloof (2003) thì cho rằng phần lớn các doanh nghiệp có một khoản tiền lớn được đầu tư trong vốn luân chuyển. Điều đó cũng đồng nghĩa rằng việc quản trị vốn luân chuyển sẽ có tác động tích cực đến thành quả của doanh nghiệp mà trực tiếp là lợi nhuận trước thuế của chính doanh nghiệp đó. Deloof sử dụng mẫu 1 Kmart là công ty bán lẻ của Mỹ 2 Walmart là công ty bán lẻ của Mỹ được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán New York 123doc 6 gồm 1009 doanh nghiệp phi tài chính của Bỉ trong giai đoạn 1992-1996. Deloof tìm ra mối tương quan âm giữa thu nhập hoạt động ròng và vòng quay khoản phải thu, khoản phải trả và hàng tồn kho.
Do đó, Deloof cho rằng nhà quản lý có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông bằng việc giảm vòng quay khoản phải thu và vòng quay hàng tồn kho đến mức nhỏ nhất hợp lý. Deloof cũng nhận định rằng những doanh nghiệp ít sinh lợi hơn chờ lâu hơn để thanh toán hóa đơn của họ (vòng quay khoản phải trả dài hơn). Kesseven Padachi (2006), đã tiến hành nghiên cứu kiểm tra xu hướng trong việc quản trị vốn luân chuyển lên thành quả của doanh nghiệp với mẫu gồm 58 doanh nghiệp nhỏ, sử dụng phân tích dữ liệu mảng từ 1998 đến 2003. Kết quả hồi quy đã chỉ ra rằng một sự đầu tư lớn trong hàng tồn kho và khoản phải thu thì đi kèm với lợi nhuận thấp.
Lazaridis I và Tryfonidis D (2006) tiến hành nghiên cứu về mối quan hệ giữa thành quả của doanh nghiệp và quản trị vốn luân chuyển với mẫu gồm 131 doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Athens (ASE) từ năm 2001 đến 2004. Kết quả chỉ ra rằng có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa thành quả hoạt động của doanh nghiệp và chu kỳ luân chuyển tiền, và đó là tương quan âm, tức là chu kỳ luân chuyển tiền mặt càng dài càng làm giảm thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Lazaridis I và các cộng sự thấy rằng, một sự gia tăng trong kỳ thanh toán bình quân thường đi kèm với sự sụt giảm trong thành quả hoạt động. Ngoài ra, kết quả kiểm định cho thấy mối tương quan âm giữa khoản phải thu và thành quả của doanh nghiệp cũng như mối tương quan âm giữa số ngày vòng quay hàng tồn kho và thành quả doanh nghiệp.
Ngoài ra, Lazaridis I và các cộng sự cho rằng các nhà quản lý có xu hướng tạo ra lợi nhuận hay nâng cao thành quả của doanh nghiệp bằng cách quản lý chính xác chu kỳ luân chuyển tiền và giữ cho các yếu tố thành phần như: khoản phải thu, khoản phải trả, hàng tồn kho đạt mức tối ưu. 123doc 7 Vishnani và Bhupesh (2007) tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về tác động của quản trị vốn luân chuyển đến thành quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành công nghiệp điện dân dụng tại Ấn Độ. Với phương pháp kiểm định là tính toán các hệ số tương quan và phân tích hồi quy đa biến các tỷ số về lợi nhuận và các tỉ số về chính sách quản trị vốn luân chuyển cùng với các kiểm định thống kê p- value và t-stat trên 23 doanh nghiệp. Kết quả về phân tích tương quan cho thấy rằng chính sách quản trị vốn luân chuyển có tác động đến thành quả của doanh nghiệp.
Cụ thể, các chính sách về quản trị hàng tồn kho, chính sách quản trị khoản phải thu, chính sách quản trị khoản phải trả đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng thành quả của doanh nghiệp, nâng cao giá trị tài sản cho các cổ đông. Pedro Juan Garcia – Teruel, Pedro Martinez-Solano (2007) nghiên cứu về tác động của quản trị vốn luân chuyển lên thành quả của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Tây Ban Nha. Pedro Juan Garcia – Teruel và cộng sự tiến hành kiểm định trên mẫu gồm 8872 doanh nghiệp vừa và nhỏ trong giai đoạn 1996-2002. Kết quả trưng ra bằng chứng cho thấy mối tương quan âm giữa lợi nhuận của doanh nghiệp và kỳ thu tiền bình quân, số ngày vòng quay hàng tồn kho và chu kỳ luân chuyển tiền.
Với kết quả nghiên cứu của mình, Pedro Juan Garcia – Teruel và cộng sự cho rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên chú ý đến quản trị vốn luân chuyển vì các nhà quản lý có thể tạo ra lợi nhuận bằng cách giảm chu kỳ luân chuyển tiền đến mức tối thiểu. Trong một nghiên cứu của Raheman và Nasr (2007) thì nhóm tác giả cũng tìm được kết quả tương tự giữa các thành phần của việc quản lý vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của 94 doanh nghiệp ở Pakistan trong giai đoạn nghiên cứu từ 1999 đến 2004. Falope OI và Ajilore OT (2009) đã nghiên cứu và cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của quản trị vốn luân chuyển lên thành quả của doanh nghiệp thông qua dữ liệu về 50 doanh nghiệp phi tài chính của Nigierian từ năm 1996 đến năm 2005. Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng kết hợp phân tích hồi 123doc 8 quy.
Bài nghiên cứu tìm ra được có mối tương quan âm giữa thành quả hoạt động của doanh nghiệp và kỳ thu tiền bình quân, số ngày vòng quay hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân và chu kỳ luân chuyển tiền. Hơn thế nữa, bài nghiên cứu tìm thấy không có sự khác biệt nào về tác động của quản trị vốn luân chuyển lên thành quả hoạt động của doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ. Từ các kết quả nghiên cứu trên, Falope OI và cộng sự cho rằng các nhà quản lý có thể gia tăng giá trị cho các cổ đông của mình bằng cách quản trị vốn luân chuyển hiệu quả hơn thông qua việc giảm kỳ thu tiền bình quân và số ngày vòng quay hàng tồn kho đến mức nhỏ nhất hợp lý. Mathuva (2010) cũng đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố thành phần của quản trị vốn luân chuyển lên thành quả hoạt động của doanh nghiệp trên 30 doanh nghiệp được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Nairobi (NSE) giai đoạn 1993 - 2008.
Sử dụng phương pháp OLS và Mô hình hồi quy “Fixed Effects”. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, các nhà quản lý của doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị cho cổ đông, nâng cao thành quả hoạt động của doanh nghiệp mình bằng cách giảm kỳ thu tiền bình quân, hoặc các nhà quản lý cũng có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông bằng cách gia tăng hàng tồn kho của doanh nghiệp ở một mức hợp lý, và kéo dài thời gian trả tiền đến mức không làm ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các doanh nghiệp và chủ nợ. Các doanh nghiệp có thể thu được những lợi thế cạnh tranh bằng việc dùng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp thông qua việc giảm trong chu kỳ luân chuyển tiền đến mức tối thiểu. Nếu tiếp tục làm như vậy, thành quả của doanh nghiệp sẽ gia tăng và qua đó làm tăng giá trị cho cổ đông Nghiên cứu của Huỳnh Phương Đông và Su (2010) thực hiện nghiên cứu việc quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp cho trường hợp của Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng sinh lời của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi việc quản trị vốn luân chuyển. Dữ liệu dạng Pooled OLS được tác giả sử dụng cho nghiên cứu 131 doanh nghiệp trên sàn chứng khoán 123doc 9 Việt Nam từ 2006 đến 2008. Huỳnh Phương Đông và cộng sự chỉ ra rằng sự sụt giảm khả năng sinh lời xảy ra khi có sự gia tăng trong chu kì chuyển đổi tiền mặt. Đồng thời, nếu vòng quay khoản phải thu và vòng quay hàng tồn kho giảm đi thì sẽ làm cho khả năng sinh lời tăng lên.
Neab và Noriza (2010) cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và kết quả hoạt động của doanh nghiệp với mẫu gồm 172 doanh nghiệp trên sàn chứng khoán Malaysia từ 2003 đến 2007.