Chương 1: Giới thiệu. - Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây về quản trị vốn luân chuyển. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
- Chương 5: Kết luận. 123doc 5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN 2. Cơ sở lý thuyết về quản trị vốn luân chuyển 2. Vốn luân chuyển Theo Trần Ngọc Thơ và cộng sự (2007), tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn được gọi chung là vốn luân chuyển.
Tài sản ngắn hạn được định nghĩa là những tài sản sử dụng trong hoạt động hàng ngày của công ty nhằm mang lại cho công ty lượng tiền mặt trong khoảng thời gian không quá một năm, tài sản ngắn hạn quan trọng nhất bao gồm khoản phải thu, hàng tồn kho, tiền mặt và chứng khoán thị trường. Nợ ngắn hạn thường được các công ty sử dụng để tài trợ cho nhu cầu vốn luân chuyển, nợ ngắn hạn gồm có những khoản vay ngắn hạn, những khoản nợ phải trả nhà cung cấp, khoản thuế phải nộp nhà nước và những khoản nợ ngắn hạn khác. Vốn luân chuyển là sai biệt giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, tức là: Vốn luân chuyển = Tài sản ngắn hạn - Nợ ngắn hạn Chu kỳ hoạt động kinh doanh (Hình 2.1) của một công ty bắt đầu từ lúc công ty đó đang nắm giữ một lượng tiền mặt. Lượng tiền mặt này được dùng để mua nguyên vật liệu, lúc này xuất hiện những khoản phải trả cho nhà cung ứng và hình thành hàng tồn kho nguyên vật liệu, qua quá trình sản xuất trở thành tồn kho thành phẩm.
Tiếp đến hàng hóa được bán cho khách hàng, hàng tồn kho lúc này trở thành khoản phải thu. Sau đó, công ty nhận tiền mặt thanh toán các đơn hàng từ khách hàng, phần lợi nhuận được bổ sung vào số dư tiền mặt. Xuyên suốt quá trình này, chỉ có thành phần của vốn luân chuyển thay đổi liên tục còn lượng vốn luân chuyển vẫn không đổi. Chính vì vậy, vốn luân chuyển là thước đo hữu ích cho tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn.1: Chu kỳ hoạt động của công ty TIỀN MẶT KHOẢN PHẢI NGUYÊN THU LIỆU THÀNH PHẨM Nguồn: Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2007.
Quản trị vốn luân chuyển Lập kế hoạch tài chính ngắn hạn liên quan với quản trị tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn của doanh nghiệp, nói cách khác quản trị vốn luân chuyển chính là việc quản trị nguồn tài chính ngắn hạn. Quản trị vốn luân chuyển bao gồm quản lý tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các khoản phải trả. Quản trị vốn luân chuyển hiệu quả sẽ thúc đẩy công ty gia tăng khả năng thanh toán bằng tiền mặt, khả năng sinh lợi và giá trị của các cổ đông. Quản lý tiền mặt Quản lý tiền mặt là việc công ty phải đảm bảo lượng tiền mặt sẵn có đủ đáp ứng chi phí hoạt động, đồng thời tối thiểu hóa chi phí của việc nắm giữ tiền mặt.
Tiền mặt có tính thanh khoản nhưng nó không sinh ra tiền lãi, trong khi chứng khoán có thể mang lại khả năng sinh lợi nhưng công ty không thể sử dụng. Nhà quản trị cần phải biết nên giữ tiền mặt ở mức nào để giá trị lợi ích của tính thanh khoản cân bằng với tỷ suất sinh lợi 123doc 7 có thể kiếm được từ các chứng khoán. Nếu số dư tiền mặt dự kiến không đủ trang trải các chi phí hoạt động thường ngày và cung cấp một khoản dự phòng cho các chi tiêu bất ngờ, công ty sẽ phải tìm thêm nguồn tài trợ. Khi sử dụng nguồn tài trợ, công ty không chỉ gánh chịu chi phí trả lãi mà còn có các chi phí tiềm ẩn khác.
Nhiệm vụ của các nhà quản trị lúc này là phải chọn cách tài trợ nào có tổng chi phí thấp nhất nhưng vẫn đủ linh hoạt để công ty trang trải được những chi phí bất ngờ (Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2007). Quản lý khoản phải thu Quản lý khoản phải thu liên quan đến việc áp dụng chính sách tín dụng phù hợp cho các khách hàng của công ty. Một chính sách tín dụng hợp lý được kỳ vọng sẽ thu hút khách hàng và tăng doanh thu, tác động tích cực đến lợi nhuận. Tuy nhiên, điều này có thể gây ảnh hưởng bất lợi đến dòng tiền công ty, bởi các khoản phải thu cũng là một phần giúp công ty trang trải cho các khoản nợ (Rimo và Panbunyuen, 2010).
Do đó, khi quản lý khoản phải thu cần phải cân nhắc giữa gia tăng doanh thu và đảm bảo dòng tiền thiết yếu trong công ty. Các nhà quản trị cần phân tích đánh giá những khách hàng được công ty cấp tín dụng, cũng như thận trọng trong việc xác định thời hạn cấp tín dụng cho các khách hàng đó. Quản lý hàng tồn kho Các giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh không phải lúc nào cũng diễn ra đồng bộ. Hàng tồn kho có vai trò như một tấm đệm an toàn giữa các giai đoạn này như mua nguyên vật liệu – sản xuất – tiêu thụ sản phẩm (Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2007).
Hàng tồn kho giúp công ty chủ động trong việc sản xuất, mua nguyên vật liệu và tiêu thụ cũng như việc được hưởng các chiết khấu thương mại. Thách thức cho các nhà quản trị đó là quản lý hàng tồn kho ở mức nào để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh diễn ra liên tục, cung cấp đủ sản phẩm đầu ra đáp ứng nhu cầu thị trường mà tổng chi phí lưu giữ hàng tồn kho là thấp nhất, đồng thời tránh việc sản xuất quá đà. Để quản lý 123doc 8 hàng tồn kho đạt được những mục tiêu trên cần thực hiện phân loại cụ thể từng loại hàng tồn kho theo giai đoạn sản xuất, tiếp đến là cân nhắc giữa lợi ích và phí tổn để xác định mức tồn kho tối ưu. Quản lý khoản phải trả Quản lý khoản phải trả bằng nguồn tài chính hợp lý.
Khi không thể đảm bảo việc thanh toán các khoản phải trả bằng nguồn nội bộ, công ty phải huy động tài trợ từ bên ngoài. Có thể vay ngân hàng một hạn mức tín dụng không đảm bảo, vay thế chấp các khoản phải thu hay hàng tồn kho, tuy nhiên công ty có thể bị yêu cầu phải duy trì một số dư bù trừ tại ngân hàng. Ngoài ra, công ty có thể thương lượng về việc gia hạn thời gian thanh toán càng lâu càng tốt, bằng cách này có thể chiếm dụng vốn, tận dụng nguồn lực của nhà cung ứng, nhưng công ty có thể bị mất đi khoản chiết khấu ưu đãi từ việc thanh toán sớm cho nhà cung ứng. Do vậy, các nhà quản trị tài chính cần cân nhắc chọn phương án tài trợ nào có chi phí thấp nhất.
Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt là một thước đo linh hoạt, đứng trên quan điểm về dòng tiền thông qua việc sử dụng dữ liệu từ bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, thước đo này cho biết khả năng thanh toán bằng tiền mặt của công ty và vốn luân chuyển được quản lý hiệu quả như thế nào. Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt là khoảng thời gian bắt đầu từ lúc các công ty chi tiền để mua các nguyên vật liệu từ nhà cung ứng cho đến khi thu được tiền mặt từ việc bán thành phẩm cho khách hàng. Một công ty hoạt động quản trị vốn luân chuyển hiệu quả được kỳ vọng có chu kỳ chuyển đổi tiền mặt ngắn. Khi chu kỳ chuyển đổi tiền mặt giảm nghĩa là khả năng thanh toán bằng tiền mặt được cải thiện, công ty ít bị giam vốn hơn.
Thậm chí chu kỳ chuyển đổi tiền mặt có thể âm, điều này cho thấy công ty không cần sử dụng vốn luân 123doc 9 chuyển mà còn có thể tạo ra doanh thu tài chính nhờ chiếm dụng được vốn luân chuyển của nhà cung ứng. Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt được tính bằng tổng của số ngày trung bình khoản phải thu và số ngày trung bình hàng tồn kho trừ đi số ngày trung bình khoản phải trả.2: Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt Nguồn: Ross và cộng sự, 2005. Số ngày trung bình khoản phải thu Là tiêu chí được sử dụng để đánh giá chính sách thu nợ khách hàng, cho biết công ty mất một khoảng thời gian trung bình bao nhiêu ngày để nhận được các khoản thanh toán từ khách hàng, tính bằng bình quân của khoản phải thu đầu kỳ và cuối kỳ chia cho doanh thu trung bình hàng ngày: Số ngày trung bình khoản phải thu cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách bán chịu của công ty. 123doc 10 Số ngày trung bình hàng tồn kho Là tiêu chuẩn đánh giá xem công ty sử dụng hàng tồn kho hiệu quả như thế nào, cho biết thời gian trung bình công ty lưu giữ hàng tồn kho trước khi đem bán, được tính bằng bình quân của hàng tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ chia cho giá vốn hàng bán trung bình mỗi ngày: Để rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, số ngày trung bình hàng tồn kho càng ngắn càng tốt.
Số ngày trung bình hàng tồn kho cao hay thấp tùy thuộc vào đặc điểm từng ngành kinh doanh. Số ngày trung bình khoản phải trả Là thước đo chính sách trả nợ nhà cung cấp, cho biết số ngày trung bình mà công ty sẽ phải thanh toán cho những nhà cung cấp, được tính bằng bình quân của khoản phải trả đầu kỳ và cuối kỳ chia cho giá vốn hàng bán trung bình mỗi ngày: Trong khi số ngày trung bình khoản phải thu và số ngày trung bình hàng tồn kho cần phải giữ ở mức thấp thì số ngày trung bình khoản phải trả càng dài sẽ càng có lợi trong việc rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Những nghiên cứu trước đây về các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị vốn luân chuyển Làm thế nào để hoạt động quản trị vốn luân chuyển thực sự hiệu quả là mục tiêu được đặt ra cho tất cả các công ty. Do vậy, trong những năm gần đây, vấn đề quản trị 123doc 11 vốn luân chuyển được các nhà nghiên cứu trên rất nhiều quốc gia chú ý đến.
Có hai hướng nghiên cứu chính đã được thực hiện. Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào hướng thứ nhất, đó là mối quan hệ giữa vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của công ty, chẳng hạn: Deloof (2003), Eljelly (2004), Raheman và Nasr (2007), Uyar (2009), Gill và cộng sự (2010) … và rất nhiều nghiên cứu khác. Hướng thứ hai tập trung vào việc thiết lập và phân tích mối quan hệ giữa hiệu quả của hoạt động quản trị vốn luân chuyển và các yếu tố đặc tính công ty.