MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, không ngừng làm tăng giá trị DN, lợi ích của các chủ sở hữu là mục tiêu kinh doanh cốt lõi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN nói chung, DN nhà nước (DNNN) nói riêng trong điều kiện nền KTTT. Theo báo cáo của Chính phủ đến cuối năm 2016 các DN 100% vốn nhà nước ở Việt Nam đang nắm giữ 1.398 triệu tỷ đồng vốn nhà nước, có tổng giá trị tài sản là 3.053 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên hiệu quả hoạt động của DNNN chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ, chưa phát huy hết vai trò nòng cốt của DNNN trong khu vực kinh tế nhà nước, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp; một số DNNN, tập đoàn, tổng công ty nhà nước hoạt động yếu kém, làm ăn thua lỗ, chưa đáp ứng được sự kỳ vọng và các yêu cầu đòi hỏi của xã hội; cơ chế quản trị chưa đáp ứng các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5 khóa XII ngày 03/6/2017 cũng chỉ rõ “DN nhà nước chưa thực sự cạnh tranh bình đẳng với các DN thuộc các thành phần kinh tế khác; chưa thực hiện được vai trò là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước; hiệu quả kinh doanh và đóng góp của phần lớn DN nhà nước còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực nhà nước đầu tư; nhiều DN và dự án đầu tư kém hiệu quả, nợ nần, thua lỗ, thất thoát, không thể phục hồi. Mô hình quản trị DN Nhà nước chậm được đổi mới, kém hiệu quả, không phù hợp với các thông lệ, chuẩn mực quốc tế…”. Để đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu và đổi mới, nâng cao hiệu quả kinh doanh của các DNNN theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 03/02/2018 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 09/NQ-CP về thành lập Uỷ ban quản lý vốn Nhà nước (UBQLVNN) tại DN để thực hiện chức năng đại diện CSH đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn Nhà nước đầu tư tại DN cổ phần, doanh nghiệp TNHH hai thành viên trở lên theo quy định của pháp luật nhằm tăng cường quản lý, giám sát, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Nhà nước tại các DN. Đồng thời Chính phủ cũng xác định rõ mục tiêu đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa DNNN, phấn đấu đến năm 2030 các DNNN có trình độ 2 công nghệ, kỹ thuật sản xuất hiện đại tương đương với khu vực; đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về quản trị DN; hình thành đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, có trình độ cao, phẩm chất đạo đức tốt.
TCT 319 là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, trực thuộc Bộ Quốc Phòng có vốn điều lệ là 920 tỷ đồng. Là một DN quốc phòng có quy mô lớn, hoạt động theo mô hình DN mẹ - DN con với 14 DN con trực thuộc; trong đó 12 DN con chuyên kinh doanh lĩnh vực chính là xây lắp và các sản phẩm phục vụ xây lắp gọi chung là các DN xây lắp; 01 DN kinh doanh thương mại than và 01 DN hoạt động với vai trò quản lý dự án. Trong những năm vừa qua một số DN xây lắp thuộc TCT 319 đã đạt hiệu quả kinh doanh tương đối tốt, doanh thu, lợi nhuận có xu hướng tăng. Tuy nhiên sự phát triển lại không đồng đều giữa các DN, hoặc không có xu hướng tăng ổn định qua các năm, có DN đạt lợi nhuận cao nhưng cũng có DN kinh doanh thua lỗ mặc dù môi trường, điều kiện và ngành nghề kinh doanh tương đối giống nhau.
Có DN rơi vào tình trạng nợ xấu cao, quá hạn thanh toán đối với ngân hàng và khách hàng; nguyên vật liệu cung cấp cho một số công trình có lúc thiếu gây ra tình trạng chậm tiến độ hoàn thành bàn giao công trình so với yêu cầu của chủ đầu tư. Khối doanh nghiệp TNHH một thành viên có hiệu quả kinh doanh tốt hơn khối DN cổ phần. Các DN thuộc TCT 319 trong những năm qua, VLĐ chiếm hơn 90% tổng nguồn vốn, nhưng công tác quản trị V LĐ tại các DN chưa được quan tâm đúng mức. Các DN chưa hệ thống, phân tích đánh giá đồng bộ các chỉ tiêu liên quan đến quản trị VLĐ hàng năm, chưa tìm ra những ưu điểm, hạn chế trong công tác quản trị VLĐ, chưa tìm ra nguyên nhân gây thất thoát, lãng phí trong sử dụng VLĐ, làm giảm hiệu quả kinh doanh của DN.
Mặt khác, ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về quản trị VLĐ tại các DN, nhất là quản trị VLĐ tại các DN con thuộc TCT nhà nước. Việc nghiên cứu quản trị VLĐ tại DN thuộc TCT 319 một cách hệ thống, đầy đủ nhằm góp phần bảo toàn, phát triển vốn và nâng cao hiệu quả kinh doanh tại các DN thuộc TCT 319 theo tinh thần Nghị định 91/2015/NĐ - CP ngày 13/10/2015 của Chính phủ là một yêu cầu cấp thiết. 3 Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn nêu trên tại các DN thuộc TCT 319, tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Quản trị VLĐ tại các DN thuộc TCT 319” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sỹ của mình. Tổng quan về các đề tài liên quan đến đề tài luận án Quản trị VLĐ ngày càng có vai trò quan trọng trong quản trị tài chính DN vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tính thanh khoản, rủi ro, giá trị và khả năng sinh lời của DN.
Vì vậy nghiên cứu về quản trị VLĐ luôn được các nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm nghiên cứu, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 -2008 khi những ngân hàng khổng lồ và lâu đời từng sống sót qua những cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế trước đây, như Lehman Brothers, Morgan Stanley, Citigroup, AIG, … cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Sự sụp đổ của các tổ chức khổng lồ như General Motors, Lehman Brothers, Bear Stearns và nhiều tổ chức lớn khác trên thế giới, đưa đến vị trí hàng đầu về nghiên cứu thị trường vốn, tầm quan trọng của quản trị vốn, đặc biệt là quản trị VLĐ. Đó là lý do tại saoBrigham và Houston (2003) trong cuốn “Fundamentals of Financial Management” đã đề cập rằng khoảng 60% thời gian của người quản trị tài chính được dành cho quản trị VLĐ. Đã có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành rộng rãi ở nhiều quốc gia với sự đa dạng trong phương pháp nghiên cứu và chỉ ra những biện pháp quản trị vốn mang tính hiệu quả cao trên những nội dung nghiên cứu cụ thể sau: - Nghiên cứu chung về VLĐ và quản trị VLĐ Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến VLĐ và quản trị VLĐ là những vấn đề đầu tiên các nhà nghiên cứu hướng tới để làm cơ sở đánh giá mối liên hệ giữa quản trị VLĐ với hiệu quả SXKD của các DN.
Các nghiên cứu về khái niệm về vốn lưu động (working capital), quản trị vốn lưu động (working capital management), các các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động quản trị vốn lưu động như đặc điểm của doanh nghiệp, lĩnh vực sản xuất, chính sách sản phẩm, chính sách tín dụng, mức độ tăng trưởng doanh nghiệp, mức độ hiệu quả trong điều hành, mức độ sẵn có của nguyên vật liệu,… được các nhà nghiên cứu thực hiện như Jose, M., 1996 [56], Deloof [48], Van Horne và Wachowicz [80], 4 Nghiên cứu của Berk, J. Kết quả nghiên cứu còn có những cách hiểu khác nhau về các khái niệm VLĐ, quản trị VLĐ các yếu tố ảnh hưởng tới quản trị VLĐ vì vậy cần có sự thống nhất trong cách hiểu về những khái niệm này làm cơ sở cho việc nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị VLĐ đến hiệu quả kinh doanh. Các nghiên cứu về vai trò và mục tiêu của quản trị VLĐ được nhiều tác giả quan tâm như Snober Javid, Velontrasina Prudence Marie Zita [76], Ngô Kim Hoà [12], Tô Thị Thanh Trúc, Nguyễn Đình Thiên [ 30], Bùi Thu Hiền [14], Padachi, K. Kết quả nghiên cứu cho thấy quản trị VLĐ ngày càng có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN, tuy nhiên sự tác động của các yếu tố ít hay nhiều phụ thuộc đặc thù của ngành nghề kinh doanh, quy mô mẫu nghiên cứu.
- Nghiên cứu quản trị VLĐ, chính sách VLĐ Để nghiên cứu quản trị VLĐ, chính sách VLĐ một số nhà nghiên cứu đã xây dựng bộ câu hỏi để khảo sát, sau đó thực hiện thảo luận, phân tích đánh giá kết quả thu được. Hai tác giả Belt và Smith (1991) “Comparison of working capital management practices in Australia and The United States” (So sánh thực tiễn quản trị VLĐ tại Úc và Mỹ), được đăng trên tạp chí Global Finance Journal, đã xây dựng bộ câu hỏi về quản trị VLĐ và tiến hành khảo sát các DN ở Úc. Bộ câu hỏi gồm 38 câu và chia thành 3 phần Chính sách VLĐ, khái quát chung về Quản trị VLĐ và Quản trị từng thành phần của VLĐ sau đo được tổng hợp và phân tích. Kế thừa nghiên cứu của Belt và Simth (1991), Nabil T.
Koury và các công sự (1998) trong nghiên cứu “Comparing working capital practices in Canada, the United States and Australia: A Note” (so sánh thực tiễn quản trị VLĐ tại Canada, Mỹ và Úc: một vài điểm lưu ý) cũng tiến hành khảo sát 350 DN ở Canada thuộc 10 lĩnh vực khác nhau. Các tác giả đã đưa ra nhận xét và so sánh giữa các DN Canada với các DN ở Mỹ và Úc dựa trên 45 câu hỏi về quản trị VLĐ 5 như chính sách VLĐ, quản trị hàng tồn kho, phải thu, tiền mặt, từ đó kết quả cho thấy cách thức hoạt động và quản trị VLĐ đã thay đổi theo thời gian và cũng qua các biên giới quốc tế. Mian Sajid Nazir; Umair Iqbal; Muhammad Imran Akram (2012) trong bài báo “Working Capital Management Practices of Non-Financial Firms in Pakistan” Nghiên cứu tập trung vào các hoạt động VLĐ của các tổ chức phi tài chính, các DN niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Karachi ở Pakistan. Với 3 nội dung là chính sách VLĐ; tổng VLĐ và trong quản trị từng thành phần của VLĐ.
Nghiên cứu hiện tại sử dụng phương pháp khảo sát của các DN phi tài chính trong 12 các lĩnh vực khác nhau. Sau đó, các kỹ thuật và phương pháp phổ biến nhất được các DN sử dụng thảo luận. Phần lớn các DN trong cuộc khảo sát có chính sách VLĐ, được thiết lập bởi các nhà quản trị hàng đầu, quản lý VLĐ là rất quan trọng cho sự thành công của một DN.