Mở đầu cho hướng nghiên cứu này là Jose, Lancaster và Stevens. Năm 1996, Jose và các cộng sự đã tiến hành kiểm định mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, bằng cách sử dụng mẫu nghiên cứu của 2.718 doanh nghiệp được lấy từ COMPUSTAT trong khoảng thời gian 1974 - 1993. Kết quả thực nghiệm đã trưng ra bằng chứng là chu kỳ luân chuyển tiền có mối quan hệ nghịch chiều với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, được đánh giá thông qua chỉ tiêu tỷ suất 7 sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE). Từ đó cho thấy, việc rút ngắn chu kỳ luân chuyển tiền có thể làm gia tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.
Do đó, các nhà quản trị doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị cho cổ đông bằng cách đưa ra các chiến lược quản trị vốn luân chuyển hợp lý. Tiếp nối nghiên cứu của Jose và các cộng sự là nghiên cứu của Wang (2002). Wang đã tiến hành kiểm định mối quan hệ giữa quản trị thanh khoản và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Mẫu nghiên cứu bao gồm 1.555 doanh nghiệp Nhật Bản và 379 doanh nghiệp Đài Loan.
Kết quả thực nghiệm cho thấy những doanh nghiệp có chỉ số Tobin’s q>1 sẽ có chu kỳ luân chuyển tiền ngắn hơn so với những doanh nghiệp có chỉ số Tobin’s q<1. Từ đó, bài nghiên cứu đưa ra kết luận rằng việc giảm chu kỳ luân chuyển tiền có thể làm gia tăng hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp. Bởi vì, với một chu kỳ luân chuyển tiền thấp sẽ cho phép các nhà quản trị doanh nghiệp tối thiểu hoá việc nắm giữ các tài sản kém hiệu quả như tiền mặt và chứng khoán thị trường. Ngoài ra, với một chu kỳ luân chuyển tiền thấp thì doanh nghiệp chỉ cần duy trì một mức vay nợ ngắn hạn thấp là đủ để có thể duy trì để tính thanh khoản cho doanh nghiệp.
Cuối cùng, với một chu kỳ luân chuyển tiền thấp sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra giá trị dòng tiền ròng cao hơn. Cùng với hướng nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi, Deloof (2003) đã sử dụng mẫu 1.009 doanh nghiệp tại Bỉ trong khoảng thời gian 1992 – 1996 để kiểm định mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả thực nghiệm đã tìm thấy mối quan hệ nghịch chiều và có ý nghĩa về mặt thống kê giữa kỳ thu tiền, ngày lưu kho và kỳ phải trả đối với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp được đánh giá thông qua tỷ lệ thu nhập hoạt động gộp. Nghiên cứu chỉ ra rằng các nhà quản trị doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp bằng cách giảm kỳ thu tiền và ngày lưu kho đến mức tối thiểu có thể.
Bởi vì, mặc dù việc gia tăng các khoản tín dụng thương mại và hàng tồn kho có thể giúp doanh nghiệp gia tăng doanh số bán hàng. Tuy nhiên, khi gia tăng các khoản tín dụng thương mại và hàng tồn kho đồng nghĩa với việc doanh nghiệp 8 buộc phải gia tăng nguồn tài trợ bổ sung, làm gia tăng chi phí sử dụng vốn. Điều này có thể làm giảm khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cho thấy giữa kỳ phải trả và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp có mối quan hệ nghịch chiều, điều này phù hợp với quan điểm cho rằng các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi thấp thường mất thời gian lâu hơn để thanh toán những khoản nợ của mình.
Bổ sung thêm vào kết quả nghiên cứu của Deloof (2003) là nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006). Khi điều tra mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp Hy Lạp với mẫu nghiên cứu bao gồm 131 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Athens trong khoảng thời gian 2001- 2004, kết quả thực nghiệm cho thấy kỳ thu tiền có mối quan hệ nghịch chiều đối với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, được đánh giá thông qua tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp. Từ đây cho thấy những doanh nghiệp nào bị khách hàng chiếm dụng vốn càng lâu thì khả năng sinh lợi của doanh nghiệp đó càng thấp. Đồng thời, kết quả thực nghiệm còn cho thấy giữa khả năng sinh lợi của doanh nghiệp và kỳ phải trả có mối quan hệ nghịch chiều.
Điều này phù hợp với quan điểm cho rằng các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi thấp thường mất thời gian lâu hơn để thanh toán các khoản nợ cho nhà cung cấp. Ngoài ra, kết quả thực nghiệm còn tìm thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa chu kỳ luân chuyển tiền và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Điều này cho thấy các nhà quản trị doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp bằng cách quản lý hiệu quả chu kỳ luân chuyển tiền và duy trì từng thành phần như khoản phải thu, khoản phải trả và hàng tồn kho ở một mức tối ưu có thể. Một năm sau, năm 2007 García-Teruel và Martínez-Solano khi sử dụng mẫu nghiên cứu 8.872 doanh nghiệp vừa và nhỏ của Tây Ban Nha trong khoảng thời gian 1996 – 2002 để kiểm định tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.
García-Teruel và cộng sự đã tìm thấy kỳ thu tiền và kỳ lưu kho có mối quan hệ nghịch chiều với khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều này cho thấy các nhà quản trị doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông bằng cách giảm thời gian luân chuyển hàng tồn kho và kỳ thu tiền bình quân. Kết luận từ bài 9 nghiên cứu còn cho thấy việc quản lý hiệu quả chu kỳ luân chuyển tiền ở mức tối thiểu hợp lý có thể giúp tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Cũng trong năm 2007, Raheman và Nasr khi nghiên cứu tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Pakistan, đã sử dụng mẫu nghiên cứu bao gồm 94 doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Karachi trong giai đoạn 1999 – 2004.
Kết quả thực nghiệm cho thấy các thành phần quản trị vốn luân chuyển bao gồm kỳ thu tiền, kỳ lưu kho và chu kỳ luân chuyển tiền có mối quan hệ nghịch chiều đối với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, được đánh giá thông qua tỷ lệ lợi nhuận hoạt động ròng. Từ kết quả của bài nghiên cứu cho thấy, các nhà quản trị doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp bằng cách giảm kỳ thu tiền và giảm mức dự trữ hàng tồn kho đến mức tối thiểu hợp lý. Hơn nữa, kết quả thực nghiệm cho thấy quy mô doanh nghiệp, được đánh giá thông qua logarit tự nhiên của doanh thu thuần có mối quan hệ cùng chiều đối với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Tuy nhiên, kết quả thực nghiệm cho thấy giữa tỷ lệ đòn bẩy tài chính và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp lại có mối quan hệ nghịch chiều.
Nối dài thêm nghiên cứu về chủ đề mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là nghiên cứu của Gill, Biger và Mathur được thực hiện năm 2010. Thông qua việc sử dụng mẫu nghiên cứu của 88 doanh nghiệp Hoa Kỳ được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán New York thuộc 5 lĩnh vực khác nhau là Thiết Bị Y Tế, Công Nghiệp, Hoá Chất, Năng Lượng và Thực Phẩm trong khoảng thời gian 2005 – 2007. Gill và các cộng sự đã cho thấy kỳ thu tiền có mối quan hệ nghịch chiều đối với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, theo đó các nhà quản trị doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp bằng cách giảm kỳ thu tiền đến mức tối thiểu hợp lý. Tuy nhiên, giữa khả năng sinh lợi của doanh nghiệp và chu kỳ luân chuyển tiền lại có mối quan hệ cùng chiều, điều này cho thấy việc kéo dài chu kỳ kinh doanh có thể giúp doanh nghiệp gia tăng khả năng sinh lợi.
Vì vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị cho cổ đông bằng cách đưa ra các chiến lược quản trị vốn luân chuyển một cách hợp lý. 10 Trong khi đó, Huỳnh Đông Phương và Su (2010) lại tìm thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa khả năng sinh lợi của doanh nghiệp và chu kỳ luân chuyển tiền của các doanh nghiệp Việt Nam thời kỳ 2006 – 2008. Theo đó, các nhà quản trị doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị cho doanh nghiệp bằng cách giảm chu kỳ luân chuyển tiền đến mức tối thiểu hợp lý. Ngoài ra, kết quả hồi quy còn cho thấy mối tương quan nghịch chiều giữa kỳ thu tiền bình quân và kỳ lưu kho bình quân đối với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, từ đây các nhà quản trị doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp bằng cách giảm kỳ thu tiền và giảm mức dự trữ hàng tồn kho đến mức tối thiểu hợp lý.
Hơn nữa, bài nghiên cứu này cũng cho thấy những doanh nghiệp càng trì hoãn thanh toán cho các chủ nợ thì khả năng sinh lợi của doanh nghiệp đó càng cao. Cuối cùng, các nhà quản trị doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông bằng cách duy trì chu kỳ luân chuyển tiền và các thành phần của chu kỳ luân chuyển tiền một cách hợp lý. Cũng trong năm 2010, Mathuva khi nghiên cứu ảnh hưởng của các thành phần quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp Kenya từ mẫu của 30 doanh nghiệp được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Nairobi trong giai đoạn 1993 – 2008. Mathuva đã kết luận: (1) một doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông bằng cách giảm kỳ thu tiền, nghĩa là những doanh nghiệp nào thu hồi tiền từ khách hàng càng nhanh thì khả năng sinh lợi càng cao; (2) các nhà quản trị doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị cho cổ đông bằng cách gia tăng mức dự trữ hàng tồn kho của doanh nghiệp đến một mức hợp lý.
Điều này xuất phát từ thực tế, những doanh nghiệp nào có mức dự trữ hàng tồn kho hợp lý sẽ tránh được những tổn thất đến từ tình trạng thiếu hụt nguyên vật liệu trong sản xuất và giúp giảm thiểu rủi ro từ việc đánh mất các khoản doanh thu ngoài dự kiến nếu nhu cầu của khách hàng tăng cao đột ngột; (3) các nhà quản trị doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông bằng cách tăng kỳ phải trả.