CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU Tiền là tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản lớn nhất và đây cũng là lý do tiền là khoản mục đầu tiên trên Bảng Cân đối kế toán của bất kỳ doanh nghiệp nào. Dòng tiền trong mỗi công ty đều đóng vai trò khá quan trọng, đặc biệt là lượng tiền mặt đang được nắm giữ. Lượng tiền mặt hiện có sẽ giúp doanh nghiệp thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chủ động hơn trong việc đầu tư vào các dự án trong tương lai. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần phải nắm giữ lượng tiền mặt như thế nào vừa hiệu quả vừa không tốn kém quá nhiều chi phí.
Vì vậy, làm thế nào để kiểm soát dòng tiền và số dư tiền luôn là một trong những vấn đề quan trọng được nhà quản lý của các doanh nghiệp quan tâm. Trên thực tế có rất nhiều doanh nghiệp tuy có lợi nhuận nhưng vẫn gặp phải khó khăn trong thanh toán do vấn đề thiếu hụt tiền mặt dẫn đến phá sản kỹ thuật. Mục đích nắm giữ tiền của doanh nghiệp để phục vụ cho nhu cầu thanh toán cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày, phòng ngừa rủi ro trước những sự kiện bất ngờ cũng như đáp ứng được nhu cầu đầu tư cho những dự án, kế hoạch trong tương lai. Số dư tiền của một doanh nghiệp cũng là một trong những tiêu chí giúp các nhà đầu tư đánh giá khả năng chống đỡ trước những khó khăn tài chính của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để có thể nắm giữ tiền một cách hiệu quả thì các nhà quản trị doanh nghiệp cần nhận diện các yếu tố nào sẽ tác động và chiều hướng ảnh hưởng của những yếu tố này đến số dư tiền mặt để có thể xác định được tỷ lệ tiền mặt cần được nắm giữ cho phù hợp. Giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 – 2008 đã tác động không nhỏ và khiến cho nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn do mất khả năng thanh toán. Sau giai đoạn khủng hoàng, các doanh nghiệp cũng đã lưu ý hơn đến vấn đề nắm giữ tiền nhằm mục đích phòng tránh các sự kiện bất khả kháng có thể xảy ra. Từ những nguyên nhân nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Những yếu tố tài chính ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam” với mẫu dữ liệu gồm 2 các công ty phi tài chính trên sàn chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2018 làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình với mục đích xác định các nhân tố gây tác động như thế nào đến việc tích trữ tiền mặt của doanh nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của bài nghiên cứu nhằm xem xét tỷ lệ tiền mặt doanh nghiệp nắm giữ trên tổng tài sản có mối tương quan như thế nào với các yếu tố tài chính bao gồm khả năng sinh lời, đòn bẩy, hệ số thanh khoản, tỷ lệ chi trả cổ tức và quy mô doanh nghiệp. Câu hỏi nghiên cứu Tỷ lệ tiền mặt trên tổng tài sản bình quân của các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn năm 2013 đến năm 2018 đã biến động như thế nào? Đặc điểm về lĩnh vực kinh doanh và thời gian hoạt động có ảnh hưởng đến mức độ tiền mặt doanh nghiệp nắm giữ hay không? Các yếu tố tài chính như đòn bẩy, tỷ lệ chi trả cổ tức, khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ thanh khoản, quy mô sẽ tác động như thế nào đến việc nắm giữ tiền của doanh nghiệp Việt Nam? Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu là tỷ lệ nắm giữ tiền và các nhân tố ảnh hưởng liên quan của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2018. 3 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2. Khung lý thuyết Những đặc điểm về hoạt động kinh doanh của mỗi công ty sẽ ảnh hưởng như thế nào đến quyết định nắm giữ tiền mặt của họ được phân tích thông qua ba lý thuyết, bao gồm lý thuyết đánh đổi (trade-off theory), lý thuyết trật tự phân hạng (pecking order theory) và lý thuyết dòng tiền tự do (free cash flow theory).
Lý thuyết đánh đổi Lý thuyết đánh đổi là một trong những lý thuyết nền tảng trong nghiên cứu mức độ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp. Lý thuyết này phát biểu rằng các doanh nghiệp khi xác định mức độ nắm giữ tiền mặt tối ưu của mình cần phải cân nhắc những lợi ích và chi phí phát sinh khi giữ lại tiền. Ferreira và Vilela (2004) đã đưa ra ba lợi ích khi doanh nghiệp nắm giữ tiền bao gồm: lợi ích thứ nhất là làm giảm đi nguy cơ gặp phải những khó khăn về tài chính, lợi ích thứ hai là nắm giữ tiền cũng giúp doanh nghiệp thực hiện các kế hoạch đầu tư trong trường hợp hạn chế tài chính và cuối cùng là giúp doanh nghiệp giảm thiểu những chi phí khi huy động vốn từ bên ngoài hoặc khi thanh lý tài sản. Chi phí chủ yếu của việc nắm giữ tiền mặt chính là chi phí cơ hội của vốn khi đầu tư vào tài sản lưu động khác.
Theo quan điểm của tác giả Thomas W.Bates ở bài nghiên cứu “Why do US firms hold so much cash much more than they used to?” năm 2009 cho rằng lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt xuất phát từ bốn động cơ chính gồm động cơ giao dịch, động cơ phòng ngừa, động cơ về thuế và động cơ đại diện. Động cơ giao dịch Động cơ giao dịch đưa ra quan điểm là mục tiêu của các công ty khi nắm giữ tiền nhằm làm phương tiện trao đổi, giao dịch, thanh toán hàng ngày. Keynes (1936) 4 đã chỉ ra yếu tố cấu thành cầu tiền tệ đầu tiên là do mức giao dịch quyết định. Vì giao dịch có tỷ lệ với thu nhập nên cầu tiền tệ cũng sẽ tỷ lệ với thu nhập.
Những mô hình tài chính cổ điển trước đây như mô hình của tác giả Baumol (1952) cũng như Miller (1966) cũng đã đưa ra quan điểm rằng nhu cầu tiền mặt tối ưu của doanh nghiệp có liên quan đến chi phí phát sinh khi doanh nghiệp chuyển đổi một tài sản tài chính thành tiền để đáp ứng cho các nhu cầu thanh toán. Vì quy mô của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến mức độ tiền của doanh nghiệp nên các doanh nghiệp lớn sẽ giữ ít tiền hơn. Động cơ phòng ngừa Động cơ phòng ngừa cho rằng doanh nghiệp sẽ nắm giữ tiền để có thể ứng phó tốt hơn với những bất lợi khi doanh nghiệp phải tốn kém nhiều chi phí hơn để tiếp cận được thị trường vốn. Động cơ phòng ngừa cũng kết luận các doanh nghiệp khi có được dự án khả quan hơn thì lượng tiền nắm giữ cũng cao hơn.
Almeida, Campello và Weisbach (2004) đã đưa thêm nhu cầu phòng ngừa của tiền vào phân tích và kết luận rằng việc nắm giữ tiền mặt và đầu tư vào những tài sản có tính thanh khoản cao đối với các công ty bị hạn chế về tài chính sẽ tăng nhiều hơn khi dòng tiền của họ gia tăng so với các công ty khác. Han và Qiu (2007) đã mở rộng phân tích và cho thấy khi dòng tiền càng biến động sẽ làm gia tăng tỷ lệ tiền nắm giữ đối với các công ty bị hạn chế tài chính, nhưng điều này lại không có tác dụng quyết định đối với các công ty khác. Acharya, Almeida và Campello (2007) cũng đã phát triển một mô hình cho thấy các công ty sẽ giữ lại tiền thay vì giảm vay nợ khi thu nhập từ hoạt động kinh doanh và cơ hội đầu tư không còn tương quan nhiều. Mô hình cho thấy các doanh nghiệp sẽ phát hành nợ và tích trữ thu nhập chuyển về từ các quốc gia có dòng tiền cao trên thế giới để đầu tư ở những nước có dòng tiền thấp hơn.
Vì vậy những doanh nghiệp gặp hạn chế tài chính nếu 5 có nhu cầu phòng ngừa cao sẽ lựa chọn gia tăng lượng tiền mặt thay cho việc giảm nợ và ngược lại. Động cơ thuế Foley, Hartzell, Titman và Twite năm 2007 chứng minh rằng các công ty của Mỹ đã có thêm một động cơ khác khi nắm giữ tiền với nguyên nhân xuất phát từ vấn đề về thuế. Các doanh nghiệp Mỹ đã phải gánh chịu thuế suất liên quan đến việc chuyển lợi nhuận từ nước ngoài về sẽ có mức tiền mặt cao hơn. Nghiên cứu đã chứng minh quan điểm này đúng khi các công ty phải chịu thuế cao đánh trên lợi nhuận từ các chi nhánh nước ngoài chuyển về thì họ sẽ tích lũy tiền mặt tại nước ngoài nhiều hơn.
Động cơ đại diện Theo phân tích của Jensen vào năm 1986, các nhà quản trị sẽ có xu hướng giữ lại tiền hơn là chi trả cổ tức cho các cổ đông khi công ty không có nhiều cơ hội đầu tư. Dittmar, Mahrt-Smith và Servaes (2003) cũng đã tìm thấy những bằng chứng chứng minh rằng các doanh nghiệp ở các nước có tồn tại vấn đề đại diện sẽ có lượng tiền mặt cao hơn các quốc gia còn lại. Đồng thời nghiên cứu của Dittmar và Mahrt-Smith (2007), Harford, Mansi và Maxwell (2008) cũng nhận định rằng các nhà quản lý chủ chốt có thể sẽ vẫn duy trì số dư tiền mặt vượt mức, nhưng cũng có thể chi tiêu số tiền mặt vượt mức nhanh hơn. Theo bài nghiên cứu “Why do firms hold cash? Evidence from EMU countries” của tác giả Ferreira (2004) về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ nắm giữ tiền theo lý thuyết đánh đổi như sau: Chi trả cổ tức.
Những doanh nghiệp chi cổ tức được dự đoán sẽ giữ ít tiền mặt hơn những doanh nghiệp không chi cổ tức. Nguyên nhân vì khi doanh nghiệp chia cổ tức sẽ có thể huy động được nguồn vốn nhưng ít tốn chi phí hơn so với doanh 6 nghiệp không chia cổ tức phải tốn kém hơn khi huy động thông qua thị trường bên ngoài. Các công ty có cơ hội đầu tư tốt nhưng do khoản lỗ dự kiến dẫn đến việc từ bỏ cơ hội sẽ phát sinh chi phí do thiếu hụt tiền mặt lớn hơn. Từ đó, tác giả dự đoán khi cơ hội đầu tư gia tăng thì công ty sẽ tăng nắm giữ tiền.
Theo lý thuyết thì các công ty tuy có được cơ hội đầu tư tốt cũng có thể khiến họ chịu chi phí nhiều hơn khi khó khăn tài chính vì NPV của các khoản đầu tư này dường như sẽ biến mất trong trường hợp phá sản. Vì vậy, các công ty sẽ nắm giữ mức tiền cao hơn để tránh gặp khó khăn về tài chính khi cơ hội đầu tư khả quan hơn. Tài sản thanh khoản thay thế.