Chương 1 tác giả trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và ý nghĩa nghiên cứu, kết cấu chung của toàn bộ luận văn. Từ đây, tác giả cũng đưa ra các mục tiêu nghiên cứu cụ thể, từ đó làm cơ sở để tìm hiểu các cơ sở lý thuyết liên quan đồng thời lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp. 7 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.1 Lý thuyết vốn lưu động 2.1 Khái niệm vốn lưu động Với James Sagner (2010) một chuyên gia quản trị tài chính và phân tích kinh tế cho rằng: “Vốn lưu động là chênh lệch giữa hai khoản mục trên bảng cân đối kế toán: tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn”. Vốn lưu động là số vốn mà doanh nghiệp phải huy động để tài trợ cho tài sản ngắn hạn.
Vốn lưu động = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn Bên cạnh đó, còn một số quan điểm về vốn lưu động như: “Vốn lưu động là số tiền cần thiết cho hoạt động hàng ngày của một công ty, được mô tả như là một khoản vốn của công ty dùng để đầu tư vào tài sản ngắn hạn và sử dụng một phần nợ ngắn hạn để tài trợ cho đầu tư” (Kulkanya Napompech, 2012). Nguyễn Thu Thủy (2011) đã đưa ra khái niệm về vốn lưu động là: “Vốn lưu động là toàn bộ tài sản ngắn hạn được sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gắn liền với chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp”. Theo Mover, McGuigan và Kretlow (2004), vốn lưu động là những khoản tiền cần thiết để thanh toán cho các hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp. Các tác giả Smith (1980); Raheman và Nasr (2007) cho rằng nếu vốn lưu động được quản lý tốt, không chỉ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kế toán mà còn làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp trên thị trường, ngược lại nếu quản lý không tốt vốn lưu động khiến cho doanh nghiệp thiếu thanh khoản thì đây là nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của hầu hết các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ.
Doanh nghiệp có một lượng vốn lưu động lớn giúp cho các doanh nghiệp chủ động được trong quá trình sản xuất và hoạt động kinh doanh khi có đủ hoặc thừa tiền, khoản phải thu và hàng tồn kho được hoạt động liên tục và tránh được nguy cơ gián 8 đoạn sản xuất. Mặt khác, khi vốn lưu động thừa thãi nó sẽ dẫn đến lãng phí nguồn lực và do đó thu được khả năng sinh lời thấp. Ngược lại, một doanh nghiệp có vốn lưu động thấp sẽ dẫn đến tính thanh khoản của tài sản thấp. Khi đó doanh nghiệp sẽ khó đáp ứng được các yêu cầu thanh toán đột xuất từ đối tác hay thiếu nguồn cung cấp nguyên vật liệu, dễ gây gián đoạn và ảnh hưởng đến quá trình hoạt động và lợi nhuận của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, điều này làm cho các doanh nghiệp ít bị ảnh hưởng bởi tình trạng ứ đọng vốn. Thay vì cần số lượng vốn lớn để duy trì một lượng tài sản ngắn hạn thì vốn có thể được đầu tư vào các dự án tạo ra giá trị, do đó tăng cơ hội phát triển của DN và cổ tức Deloof (2003); Nazir và Afza (2008).2 Phân loại vốn lưu động Theo Trần Thị Hòa và cộng sự (2014) cho rằng: ➢ Dựa theo hình thái biểu hiện: Vốn bằng tiền: Gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Vì vậy, bất kỳ công ty nào cũng cần đảm bảo một khoản tiền nhất định cho hoạt động kinh doanh của mình. Vốn vật tư hàng hóa: Là vốn lưu động dưới dạng tài sản như nguyên vật liệu, nhiên liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm,… Đồng thời cũng là loại vốn có thể chuyển đổi nhanh thành vốn bằng tiền.
Vì thế cho nên, doanh nghiệp quản lý tốt nguồn vốn này sẽ đem lại kết quả tốt trong việc phát triển kinh doanh. Các khoản phải thu: Sẽ gồm các khoản công nợ phải thu, khoản ứng trước cho người bán, phải thu nội bộ, phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng. Vì thế cho nên, để đảm bảo rằng hoạt động của doanh nghiệp không bị gián đoạn do khách hàng nợ thì doanh nghiệp có thể không cấp tín dụng cho khách hàng nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc có thể làm giảm lượng khách hàng dẫn đến lợi nhuận cũng sẽ giảm theo. ➢ Dựa theo vai trò vốn lưu động: - Vốn trong khâu dự trữ sản xuất, bao gồm: Vốn nguyên liệu chính, nguyên liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.
9 - Vốn trong khâu sản xuất, bao gồm: Giá trị của sản phẩm trong quá trình sản xuất dở dang, bán thành phẩm. - Vốn trong khâu lưu thông, bao gồm: Vốn bằng tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, vốn trong thanh toán.2 Lý thuyết tài sản vô hình 2.1 Khái niệm tài sản vô hình Theo như chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04 định nghĩa tài sản vô hình như sau: “Tài sản cố định vô hình: Là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình. Đối với chuẩn mực kế toán quốc tế theo IAS 38 “Intangible assets”: Tài sản vô hình là một tài sản phi tiền tệ có thể xác định được mà không có hình thái vật chất, đơn vị kiểm soát được phát sinh từ những sự kiện trong quá khứ, dự kiến mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai. Đồng quan điểm đó, theo Chuẩn mực thẩm định giá số 07 (Bộ Tài chính, 2015), tài sản vô hình “không có hình thái vật chất”, “có thể nhận biết được và có bằng chứng hữu hình về sự tồn tại của tài sản vô hình như hợp đồng, văn bằng bảo hộ”.
Theo tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế (IVS 2013) cho rằng tài sản vô hình là tài sản phi tiền tệ, tự biểu lộ thông qua các đặc điểm kinh tế của chúng. Tài sản vô hình không có hình thái vật chất nhưng mang lại quyền và lợi ích kinh tế cho người sở hữu nó. Tài sản vô hình bao gồm loại có thể nhận biết được và loại không thể nhận biết được. Theo như Hội đồng chuẩn mực Kế Toán Tài Chính (FASB) lại đưa ra định nghĩa như sau: tài sản vô hình là các tài sản không có dạng vật chất, là kết quả của (1) sự kiện trong quá khứ (2) có thể đo lường được (3) và mang lại lợi ích trong tương lai.
Tài sản vô hình có thể được định nghĩa một cách rộng rãi là: Là loại tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng và nó có khả năng mang lại lợi ích trong lương lai. 10 Theo Edvinson và Malone (1997) định nghĩa tài sản vô hình là kiến thức có thể chuyển đổi thành giá trị. Tương tự, Zéghal và Maaloul (2010) định nghĩa tài sản vô hình chính xác là tất cả kiến thức mà một công ty sử dụng để tạo ra giá trị gia tăng. Theo Marr và Schiuma (2001), tài sản vô hình hay vốn trí tuệ là một nhóm tài sản trí tuệ thuộc về một tổ chức có đóng góp quan trọng nhất trong việc nâng cao vị thế cạnh tranh của tổ chức, tùy thuộc vào cách gia tăng giá trị cho các bên liên quan chính.
Mặt khác, theo Sveiby (1998), phần vô hình của bảng cân đối kế toán có thể được chia thành 3 loại: Năng lực cá nhân, cấu trúc bên trong và bên ngoài.Trong khi đó, Brinker (2000) cho rằng vốn trí tuệ là lượng vốn nhân lực và vốn cấu trúc (ví dụ: mối quan hệ với người tiêu dùng, quản lý mạng và công nghệ thông tin).Tài sản vô hình hay vốn trí tuệ có thể được định nghĩa là tổng thể của ba yếu tố (vốn con người, vốn cơ cấu, vốn khách hàng) liên quan đến tri thức và công nghệ trong một tổ chức có thể mang lại cho công ty một lợi thế cạnh tranh và nhiều giá trị hơn. Tsai và cộng sự. (2012) cho biết rằng tài sản vô hình đại diện cho khả năng sinh lời trong tương lai và các cơ hội tăng trưởng giúp thúc đẩy giá trị doanh nghiệp ngày càng tăng. Theo đối tượng nghiên cứu của luận văn, hầu hết các công ty xây dựng có tài sản vô hình như là quyền sử dụng đất và phần mềm máy tính, bên cạnh đó còn có quyền khai thác tài nguyên và tài sản vô hình khác, đây là những tài sản có thể đo lường, được hạch toán qua tài khoản “tài sản cố định vô hình” trên bảng cân đối kế toán.
Mặc dù tài sản vô hình có nhiều cách phân loại theo các quan điểm khác nhau nhưng trong nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung xem xét tác động của tổng giá trị tài sản vô hình mà không nghiên cứu riêng từng loại.2 Phân loại tài sản vô hình Hiện nay, có nhiều cách phân loại tài sản vô hình dựa trên các yếu tố như thương hiệu, danh tiếng, môi trường, v. Theo Luật Thuế Thu nhập của Mỹ, tài sản vô hình có thể liên quan đến các vấn đề như: Bằng sáng chế, phát minh; Bản quyền; thương hiệu; thương quyền, giấy phép, hợp đồng… 11 Nói chung, tài sản vô hình có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu. Để tìm hiểu các nguồn lực vô hình của một tổ chức cụ thể, tài sản vô hình có thể được chia thành 7 nhóm, bao gồm: 1) Các mối quan hệ; 2) Kỹ năng; 3) Tri thức; 4) Uy tín, thương hiệu; 5) Hệ thống, quy trình; 6) Lãnh đạo và truyền thông; 7) Văn hoá. Nguồn lực mối quan hệ Về mặt học thuật, các mối quan hệ có nội hàm tương đương với vốn xã hội - là một đối tượng đã được nghiên cứu ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản… Vốn xã hội là những sự ràng buộc lẫn nhau do người ta đặt ra hay tuân thủ khi giao dịch hay khi chung sức làm một việc gì đó, nó còn được gọi là những ràng buộc xã hội hay các hành vi mẫu mực hoặc quy tắc xã hội và chúng là những yếu tố quan trọng cho sự bền vững của cuộc sống.
Hiện nay, các nghiên cứu về vốn xã hội rất phong phú và đa chiều. Trên thực tế, việc tận dụng các mối quan hệ sẵn có, mở rộng các quan hệ tiềm năng, là một cách thức làm ăn dựa trên truyền thống vốn có của người dân Việt Nam.