Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXH/CSR) bao gồm các dữ liệu phi tài chính công khai liên quan đến môi trường, quyền lợi người lao động, trách nhiệm cộng đồng và sự an toàn của người tiêu dùng. Dưới tác động của sự phát triển kinh tế - xã hội cùng các rủi ro dịch bệnh quy mô lớn (điển hình là đại dịch COVID-19), mối quan tâm của các nhà đầu tư trên thị trường tài chính đã có sự chuyển dịch căn bản: bên cạnh các chỉ số tài chính truyền thống, đạo đức kinh doanh, bảo vệ môi trường và quản trị bền vững (ESG) trở thành những tiêu chí trọng yếu để định hình quyết định phân bổ vốn. Tại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu nhận thức việc công bố thông tin TNXH trên Báo cáo thường niên hoặc Báo cáo phát triển bền vững như một công cụ chiến lược nhằm quảng bá hình ảnh, gia tăng tính minh bạch, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút dòng vốn đầu tư dài hạn.
Ngành sản xuất thực phẩm và đồ uống là một trong những ngành kinh tế then chốt, có mối quan hệ trực tiếp và sâu sắc nhất tới sức khỏe cộng đồng và môi trường sinh thái. Theo số liệu của Bộ Công Thương được tác giả trích dẫn, mức tiêu thụ thực phẩm - đồ uống đóng góp khoảng 15% GDP của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 7%/năm; chi tiêu hàng tháng cho nhóm ngành này cũng chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu chi tiêu của người tiêu dùng (khoảng 35%). Khảo sát cuối năm 2020 của Vietnam Report chỉ ra rằng từ khi dịch bệnh xuất hiện, có tới 50% người tiêu dùng đã gia tăng chi tiêu cho thực phẩm dinh dưỡng, thực phẩm hữu cơ và ưu tiên các sản phẩm thân thiện với môi trường. Do đó, các thông tin về thực hành TNXH của các doanh nghiệp thực phẩm - đồ uống càng đòi hỏi tính minh bạch và chuẩn mực cao hơn so với các lĩnh vực khác.
Tuy nhiên, tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước (như Tạ Thị Thúy Hằng, Hồ Thị Vân Anh, Trần Thị Hoàng Yến, Ho Ngoc Thao Trang & Liafisu Sina Yekini...) cho thấy các kết quả thực nghiệm về tác động của công bố thông tin TNXH đến hiệu quả tài chính vẫn chưa có sự đồng nhất. Phần lớn các đề tài trước đây mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát gộp chung toàn bộ các ngành niêm yết mà chưa đi sâu phân tích đặc thù riêng biệt của ngành sản xuất thực phẩm - đồ uống. Đây chính là khoảng trống học thuật thúc đẩy tác giả thực hiện khóa luận.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Văn bản xác định mục tiêu chung và 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về công bố thông tin TNXH, khả năng sinh lợi (KNSL) của doanh nghiệp và mối quan hệ tác động giữa mức độ công bố thông tin TNXH tới khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp thực phẩm - đồ uống niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2013–2019.
- Xây dựng mô hình kinh tế lượng phù hợp nhằm đo lường mức độ và chiều hướng ảnh hưởng của việc công bố thông tin TNXH đến khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thực phẩm - đồ uống niêm yết.
- Thảo luận kết quả phân tích thực nghiệm và đề xuất hệ thống khuyến nghị nhằm nâng cao mức độ công bố thông tin, từ đó góp phần cải thiện khả năng sinh lợi cho các doanh nghiệp ngành sản xuất thực phẩm - đồ uống niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mức độ công bố thông tin TNXH, khả năng sinh lợi và mối quan hệ tác động của mức độ công bố thông tin TNXH đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp sản xuất thực phẩm - đồ uống.
- Phạm vi không gian: Khảo sát 22 công ty sản xuất thực phẩm - đồ uống niêm yết trên hai sở giao dịch chứng khoán: Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 7 năm liên tục, từ năm 2013 đến năm 2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên ba lý thuyết quản trị và kinh tế học then chốt:
- Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory - Freeman, 1984): Doanh nghiệp tồn tại trong mối quan hệ đa chiều với các cổ đông, người lao động, khách hàng, nhà cung cấp, cơ quan nhà nước và cộng đồng xã hội. Việc báo cáo và minh bạch thông tin TNXH là phương thức để tổ chức đáp ứng đòi hỏi chính đáng của các bên liên quan trực tiếp, qua đó tạo dựng sự gắn kết và phát triển bền vững.
- Lý thuyết tính hợp pháp (Legitimacy Theory - Dowling & Pfeffer, 1975; Guthrie & Parker, 1989; Deegan et al., 2002): Doanh nghiệp hoạt động dựa trên một "khế ước xã hội" ngầm định. Để bảo vệ và duy trì tính hợp pháp cho sự tồn tại của mình, doanh nghiệp phải chứng minh các giá trị hoạt động phù hợp với chuẩn mực xã hội rộng lớn hơn thông qua việc công bố các hoạt động tích cực về môi trường và cộng đồng.
- Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory - Spence, 1974): Xuất phát từ bối cảnh thị trường có sự bất cân xứng thông tin, việc doanh nghiệp chủ động công bố các thông tin phi tài chính có chất lượng cao đóng vai trò như một tín hiệu tích cực gửi tới các nhà đầu tư và chủ nợ về năng lực quản trị rủi ro và tiềm năng sinh lời dài hạn.
Về định nghĩa CSR, tác giả lựa chọn quan điểm của Sheehy (2015): Trách nhiệm xã hội là một dạng hoạt động có quy tắc được doanh nghiệp cam kết nhằm đóng góp cho các mục tiêu xã hội dưới vai trò là một tổ chức nhân đạo, hoạt động vì cộng đồng bằng việc thực hiện các hành động mang tính đạo đức và tình nguyện. Cơ cấu TNXH được nhìn nhận qua 4 khía cạnh theo Carroll (1999): kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện. Các khung tiêu chuẩn quốc tế được hệ thống hóa trong bài gồm:
- Tiêu chuẩn GRI (Global Reporting Initiative, phiên bản 2016): Hướng dẫn công bố thông tin theo 3 trụ cột kinh tế, môi trường và xã hội.
- Tiêu chuẩn ISO 26000 (TCVN ISO 26000:2013): Bao gồm 7 chủ đề cốt lõi (điều hành tổ chức, nhân quyền, thực hành lao động, môi trường, hoạt động công bằng, vấn đề người tiêu dùng, tham gia và phát triển cộng đồng).
- Mười nguyên tắc của Hiệp ước Toàn cầu Liên Hợp Quốc (UNGC): Thể hiện qua Báo cáo tiến bộ thường niên (COP).
- Khung Báo cáo Tích hợp của Hội đồng Báo cáo Tích hợp Quốc tế (IIRC, 2013).
Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận kết hợp phương pháp định tính và định lượng:
- Phương pháp định tính và kỹ thuật phân tích nội dung (Content Analysis): Thu thập dữ liệu từ Báo cáo thường niên, Báo cáo phát triển bền vững và Báo cáo tài chính đã kiểm toán công bố trên website doanh nghiệp, HOSE, HNX và Vietstock. Đo lường chỉ số công bố thông tin TNXH ($CSRD_j$) thông qua bảng kiểm tra (checklist) gồm 4 nhóm chỉ mục: Môi trường (ENV), Lao động (EMP), Cộng đồng xã hội (COM), Người tiêu dùng (CUS). Tác giả vận dụng thang đo 3 mức điểm theo Al-Tuwajiri et al. (2004) và Khlif et al. (2015):
- Gán điểm 0: Chỉ mục không được công bố.
- Gán điểm 1: Chỉ mục được công bố dưới dạng định tính chung chung.
- Gán điểm 2: Chỉ mục được công bố định tính kèm số liệu, mô tả hành động chi tiết cụ thể.
- Chỉ số tổng hợp: $CSRD_j = \sum_{i} X_{ij}$. Tính khách quan và tin cậy của mã hóa dựa trên ba tiêu chí của Krippendorff (1980): tính ổn định, tính lặp lại và độ chính xác.
- Phương pháp định lượng kinh tế lượng:
- Khả năng sinh lợi được đo lường qua: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ($ROA$), Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ($ROE$) và Tỷ suất sinh lời trên doanh thu ($ROS$).
- Các biến kiểm soát gồm: Quy mô doanh nghiệp ($QMO$), Đòn bẩy tài chính ($DBTC$), Khả năng thanh toán ($KNTT$), Tỷ lệ tài sản cố định ($TSCĐ$), Tốc độ tăng trưởng quy mô doanh nghiệp ($GRW$).
- Quy trình xử lý dữ liệu bảng (panel data) bằng phần mềm Stata 15: Kiểm định tự tương quan giữa các biến; Chạy hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), Mô hình tác động cố định (FEM) và Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM); Sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn giữa FEM và REM; Thực hiện các kiểm định khuyết tật mô hình (kiểm định phương sai sai số thay đổi và kiểm định tự tương quan); Ứng dụng kỹ thuật ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát (GLS - Generalized Least Squares) để khắc phục các khuyết tật của mô hình, đảm bảo tính vững của các ước lượng.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA DOANH NGHIỆP
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận học thuật toàn diện. Tác giả phân tích tiến trình nhận thức về CSR: từ quan điểm cổ điển của Milton Friedman (1970) cho rằng trách nhiệm duy nhất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông, đến các góc nhìn hiện đại của Bowen (1953), Keith Davis (1973), Carroll (1999) và Matten & Moon (2004) khẳng định trách nhiệm rộng lớn hơn đối với xã hội và môi trường sinh thái. Phân tích chi tiết 4 khía cạnh của kim tự tháp CSR (kinh tế, pháp lý, đạo đức, từ thiện) và các tiêu chuẩn chứng nhận quốc tế mà doanh nghiệp thường hướng tới (ISO 45001:2018 về an toàn vệ sinh lao động, SMETA, BSCI, SA 8000, ISO 14001:2015, ISO 50001:2018).
Phần tiếp theo làm rõ bản chất và các kênh công bố thông tin TNXH. Tác giả so sánh ưu - nhược điểm giữa các hình thức truyền thông đại chúng (quảng cáo, báo chí) với các báo cáo định kỳ (Báo cáo thường niên, Báo cáo bền vững), qua đó chứng minh báo cáo văn bản là kênh thông tin tin cậy, chứa đựng nhiều dữ liệu chuyên sâu và có chi phí hợp lý nhất. Tác giả tổng thuật chi tiết các tiêu chuẩn báo cáo toàn cầu: Tiêu chuẩn GRI 2016 (Bảng 1.1), Bộ tiêu chuẩn ISO 26000:2013 (Bảng 1.2 với 7 chủ đề cốt lõi), 10 nguyên tắc của UNGC phân theo 4 nhóm nhân quyền - lao động - môi trường - chống tham nhũng (Bảng 1.3), và Khuôn khổ Báo cáo tích hợp của IIRC.
Về khả năng sinh lợi, tác giả phân tích khái niệm và công thức tính toán của ba chỉ tiêu cốt lõi: ROA (lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản bình quân, cùng các biến thể điều chỉnh chi phí lãi vay), ROE (lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân) và ROS (lợi nhuận trên doanh thu thuần hoặc tổng doanh thu). Cuối chương, tác giả tổng thuật các nghiên cứu thực nghiệm trong nước (Tạ Thị Thúy Hằng, Nguyễn Thị Thanh Phương, Đoàn Nguyễn Trang Phương, Lê Thị Trúc Loan, Phạm Thị Thu Đông) và quốc tế (Francisco et al., 2010; Urquiza, 2009; Gnanaweer & Kunori, 2018; Al-Twaijri et al., 2014), qua đó chỉ ra khoảng trống nghiên cứu đối với nhóm ngành sản xuất thực phẩm - đồ uống tại Việt Nam.
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 cung cấp bức tranh thực trạng ngành sản xuất thực phẩm - đồ uống tại Việt Nam trong giai đoạn 2013–2019, đồng thời xây dựng quy trình thực nghiệm kinh tế lượng:
- Thực trạng phát triển ngành: Số lượng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong ngành tăng trưởng liên tục. Doanh nghiệp sản xuất thực phẩm tăng từ 5.820 DN (năm 2013) lên 8.907 DN (năm 2019). Doanh nghiệp sản xuất đồ uống tăng từ 2.073 DN (năm 2013) lên 2.598 DN (năm 2019). Quy mô tổng tài sản bình quân của các doanh nghiệp thực phẩm - đồ uống liên tục mở rộng, từ mức 442 tỷ đồng (năm 2013) tăng dần qua các năm (487 tỷ đồng năm 2014, 594 tỷ đồng năm 2015, 629 tỷ đồng năm 2016, 633 tỷ đồng năm 2017, 675 tỷ đồng năm 2018) và đạt đỉnh 870 tỷ đồng vào năm 2019.
- Chỉ số tiêu thụ và thị hiếu: Chỉ số tiêu thụ của ngành luôn duy trì ở mức cao trên 100% qua các năm (chỉ giảm nhẹ khoảng 6% trong giai đoạn 2014–2015 đối với đồ uống và giảm 3% trong giai đoạn 2014 và 2016 đối với thực phẩm). Nghiên cứu trích dẫn dự báo của tổ chức BMI về ba xu hướng lớn: tiêu dùng sản phẩm hữu cơ, tự nhiên và theo mùa (trên 86% khách hàng tại Hà Nội và TP.HCM ưu tiên nhóm này); xu hướng đóng gói nhỏ gọn tiện dụng; và sự bùng nổ của các ứng dụng đặt món công nghệ (Foody, TableNow, deliveryNow).
- Hiệu quả tài chính ngành: Chỉ số ROE bình quân toàn ngành ghi nhận mức âm -0,21% vào năm 2013, nhưng sau đó phục hồi mạnh mẽ và đạt đỉnh 16,73% vào năm 2015, duy trì mức sinh lời cao trong các năm tiếp theo. Chỉ số ROA duy trì sự ổn định bền vững trong biên độ từ 7,5% đến 10%.
- Thực trạng công bố thông tin: Theo khảo sát của Vietstock và Báo Tài chính & Cuộc sống giai đoạn 2011–2020, ngành thực phẩm - đồ uống luôn nằm trong nhóm đầu về tỷ lệ doanh nghiệp đạt chuẩn công bố thông tin (xếp thứ ba thị trường về vốn hóa và thứ hai về lợi nhuận ròng trong nhóm đạt chuẩn năm 2020, chỉ sau bất động sản và ngân hàng). Năm 2017 chứng kiến sự sụt giảm tạm thời số doanh nghiệp đạt chuẩn do các quy định khắt khe mới của Thông tư 155/2015/TT-BTC, trước khi phục hồi mạnh mẽ trong giai đoạn 2018–2020.
- Xây dựng mô hình và kiểm định thực nghiệm: Tác giả lập bảng danh sách kiểm tra chỉ mục TNXH (Bảng 2.1), thiết lập các biến nghiên cứu (Bảng 2.2), trình bày thống kê mô tả (Bảng 2.3) và ma trận tương quan (Bảng 2.4). Quy trình kiểm định mô hình gồm: Kiểm định Hausman (Bảng 2.5) để lựa chọn giữa mô hình FEM và REM; Ước lượng mô hình FEM (Bảng 2.6); Kiểm định phương sai sai số thay đổi (Bảng 2.7); Kiểm định tự tương quan (Bảng 2.8); và cuối cùng áp dụng phương pháp hồi quy GLS (Bảng 2.9) để xử lý triệt để các khuyết tật mô hình, hoàn thiện bảng tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu (Bảng 2.10).
CHƯƠNG 3: THẢO LUẬN KẾT QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT KHUYẾN NGHỊ
Dựa trên kết quả chạy mô hình hồi quy GLS, tác giả thảo luận sâu sắc về mức độ và chiều hướng tác động của chỉ số công bố thông tin TNXH tổng thể cũng như các nhóm thông tin thành phần (ENV, EMP, COM, CUS) và các biến kiểm soát tài chính (QMO, DBTC, KNTT, TSCĐ, GRW) đến các biến phụ thuộc đo lường khả năng sinh lợi (ROA, ROE, ROS). Từ các bằng chứng thực nghiệm, chương 3 đề xuất hệ thống khuyến nghị đồng bộ cho 3 nhóm đối tượng:
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Hoàn thiện và chuẩn hóa khuôn khổ pháp lý về công bố thông tin phi tài chính; xây dựng bộ tiêu chí báo cáo phát triển bền vững phù hợp riêng cho từng phân ngành sản xuất; tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát tính trung thực của các báo cáo thường niên nhằm bảo vệ nhà đầu tư.
- Đối với các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm - đồ uống niêm yết: Nâng cao nhận thức của ban điều hành về giá trị kinh tế của CSR; lồng ghép chiến lược TNXH vào kế hoạch kinh doanh cốt lõi; áp dụng hệ thống kế toán quản trị chi phí môi trường; đầu tư công nghệ sản xuất sạch và chủ động công bố thông tin chi tiết, định lượng thay vì chỉ dừng lại ở các cam kết định tính chung chung.
- Đối với nhà đầu tư: Nâng cao năng lực phân tích báo cáo phi tài chính; sử dụng mức độ công bố thông tin TNXH và báo cáo phát triển bền vững như một tiêu chí sàng lọc quan trọng để đánh giá mức độ rủi ro, trách nhiệm cộng đồng và triển vọng tăng trưởng dài hạn của doanh nghiệp trước khi đưa ra quyết định đầu tư.
Kết quả và đóng góp
Số liệu thực trạng phát triển ngành sản xuất thực phẩm - đồ uống (2013–2019)
Khóa luận tổng hợp các dữ liệu thực tế từ Bộ Công Thương và báo cáo tài chính của 22 doanh nghiệp niêm yết trong giai đoạn 2013–2019:
| Năm |
Số DN thực phẩm (DN) |
Số DN đồ uống (DN) |
Tổng tài sản bình quân (Tỷ VNĐ) |
ROA bình quân (%) |
ROE bình quân (%) |
| 2013 |
5.820 |
2.073 |
442 |
7,5 – 10,0 |
-0,21 |
| 2014 |
6.275 |
2.116 |
487 |
7,5 – 10,0 |
Dương |
| 2015 |
6.630 |
2.190 |
594 |
7,5 – 10,0 |
16,73 |
| 2016 |
7.137 |
2.291 |
629 |
7,5 – 10,0 |
Ổn định |
| 2017 |
7.661 |
2.373 |
633 |
7,5 – 10,0 |
Ổn định |
| 2018 |
8.883 |
2.514 |
675 |
7,5 – 10,0 |
Ổn định |
| 2019 |
8.907 |
2.598 |
870 |
7,5 – 10,0 |
Ổn định |
Nguồn: Tác giả khóa luận tổng hợp từ số liệu của Bộ Công Thương và tính toán từ báo cáo các công ty.
Kết quả mô hình kinh tế lượng
- Khóa luận đã xây dựng thành công chỉ số công bố thông tin TNXH đa chiều ($CSRD_j$) cho 22 doanh nghiệp thực phẩm - đồ uống trong 7 năm, bao quát 4 trụ cột thông tin then chốt.
- Quy trình kiểm định kinh tế lượng diễn ra chặt chẽ: kiểm định Hausman xác nhận mô hình tác động cố định (FEM) phù hợp hơn mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Khi phát hiện các khuyết tật về hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan trong mô hình FEM, tác giả đã sử dụng kỹ thuật ước lượng GLS để khắc phục, đưa ra các ước lượng hệ số hồi quy vững, giải thích rõ chiều hướng tác động của mức độ công bố thông tin TNXH tới khả năng sinh lợi (ROA, ROE, ROS).
Đóng góp mới của tác giả
- Về mặt học thuật: Khóa luận bổ sung bằng chứng thực nghiệm chuyên sâu cho thị trường chứng khoán Việt Nam trong một phân ngành sản xuất cụ thể có tính nhạy cảm cao về môi trường và an toàn sức khỏe (thực phẩm - đồ uống), giải quyết mâu thuẫn và khoảng trống nghiên cứu của các đề tài trước vốn chỉ phân tích gộp toàn thị trường.
- Về mặt phương pháp: Xây dựng bảng danh mục chỉ mục kiểm tra thông tin TNXH và quy trình mã hóa thang điểm 3 mức (0, 1, 2) có căn cứ khoa học chặt chẽ, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kiểm định độ tin cậy của Krippendorff (1980).
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp cơ sở khoa học giúp lãnh đạo doanh nghiệp ngành thực phẩm - đồ uống thấy rõ lợi ích kinh tế của việc minh bạch hóa thông tin TNXH, đồng thời đề xuất hệ thống khuyến nghị thực tế cho cơ quan quản lý và các nhà đầu tư tài chính.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên phạm vi và nội dung trình bày trong văn bản, khóa luận tồn tại các điểm giới hạn sau:
- Quy mô mẫu nghiên cứu: Mẫu khảo sát giới hạn ở 22 doanh nghiệp sản xuất thực phẩm - đồ uống niêm yết trên HOSE và HNX. Dữ liệu chưa bao quát được các doanh nghiệp chưa niêm yết, doanh nghiệp giao dịch trên sàn UPCoM hoặc các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành, do đó mức độ khái quát hóa cho toàn bộ ngành thực phẩm - đồ uống Việt Nam còn hạn chế nhất định.
- Khung thời gian nghiên cứu: Dữ liệu dừng lại ở năm 2019, chưa cập nhật và lượng hóa được những biến động lớn về tài chính và thực hành công bố thông tin trong bối cảnh đại dịch COVID-19 bùng phát dữ dội từ năm 2020 trở đi, cũng như giai đoạn áp dụng Thông tư 96/2020/TT-BTC thay thế cho Thông tư 155/2015/TT-BTC.
- Tính chủ quan trong mã hóa dữ liệu: Mặc dù áp dụng thang đo 3 mức độ (0, 1, 2) và tuân thủ các nguyên tắc mã hóa khoa học, phương pháp phân tích nội dung thủ công từ báo cáo thường niên vẫn có khả năng chịu sự ảnh hưởng từ đánh giá định tính chủ quan của người mã hóa.
Hướng mở rộng nghiên cứu:
- Mở rộng quy mô mẫu nghiên cứu sang các doanh nghiệp đại chúng chưa niêm yết hoặc thực hiện so sánh đối chiếu giữa ngành thực phẩm - đồ uống với các ngành sản xuất có mức độ phát thải cao khác.
- Kéo dài chuỗi thời gian nghiên cứu qua các năm 2020–2025 để đánh giá sự thay đổi trong hành vi công bố thông tin sau đại dịch.
- Bổ sung các biến đo lường giá trị thị trường của doanh nghiệp như chỉ số Tobin's Q bên cạnh các chỉ tiêu kế toán truyền thống (ROA, ROE, ROS).
Giá trị tham khảo
Tài liệu này mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng học thuật và thực tiễn:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kế toán và Quản trị kinh doanh: Khóa luận là tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình nghiên cứu thực nghiệm định lượng sử dụng dữ liệu bảng (panel data) trên phần mềm Stata 15, từ bước thống kê mô tả, ma trận tương quan, kiểm định Hausman đến các bước kiểm định khuyết tật (phương sai sai số thay đổi, tự tương quan) và xử lý bằng mô hình GLS.
- Các nhà nghiên cứu về Trách nhiệm xã hội (CSR/ESG): Cung cấp hệ thống cơ sở lý thuyết chuẩn mực (Freeman, Spence, Carroll, Sheehy) và danh mục chỉ mục kiểm tra thông tin TNXH 4 khía cạnh được lượng hóa qua thang đo điểm 0–1–2.
- Nhà quản trị doanh nghiệp sản xuất thực phẩm - đồ uống: Giúp ban lãnh đạo và bộ phận kế toán - truyền thông nhận thức đúng đắn về vai trò của việc lập Báo cáo thường niên và Báo cáo phát triển bền vững theo chuẩn GRI hoặc ISO 26000 nhằm nâng cao uy tín thương hiệu và hỗ trợ tăng trưởng tỷ suất sinh lời.
- Các chuyên viên phân tích tài chính và nhà đầu tư: Cung cấp thêm một góc nhìn định lượng về giá trị của các thông tin phi tài chính trong việc sàng lọc danh mục đầu tư an toàn và bền vững.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả khóa luận sử dụng phương pháp và thang đo nào để lượng hóa mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội?
Tác giả áp dụng phương pháp phân tích nội dung (Content Analysis) dựa trên danh sách kiểm tra gồm 4 nhóm thông tin: Môi trường (ENV), Lao động (EMP), Cộng đồng xã hội (COM) và Người tiêu dùng (CUS). Dựa trên nghiên cứu của Al-Tuwajiri et al. (2004) và Khlif et al. (2015), mỗi chỉ mục được chấm điểm theo thang 3 mức:
- $X_{ij} = 0$: Không công bố thông tin.
- $X_{ij} = 1$: Có công bố nhưng ở mức định tính chung chung.
- $X_{ij} = 2$: Có công bố thông tin định tính kèm số liệu, hành động cụ thể, chi tiết.
Chỉ số công bố của mỗi doanh nghiệp ($CSRD_j$) là tổng số điểm đạt được: $CSRD_j = \sum_{i} X_{ij}$.
2. Dữ liệu thực nghiệm của khóa luận được thu thập trong phạm vi không gian và thời gian nào?
Nghiên cứu khảo sát 22 công ty sản xuất thực phẩm - đồ uống niêm yết trên hai sở giao dịch chứng khoán HNX và HOSE trong khoảng thời gian 7 năm liên tục, từ năm 2013 đến năm 2019. Nguồn dữ liệu gồm Báo cáo thường niên, Báo cáo phát triển bền vững và Báo cáo tài chính đã kiểm toán công bố công khai.
3. Quy trình kiểm định mô hình kinh tế lượng trong bài được thực hiện qua các bước nào?
Quy trình thực nghiệm trên phần mềm Stata 15 gồm:
- Thống kê mô tả và kiểm định ma trận tự tương quan giữa các biến.
- Hồi quy mô hình OLS, FEM (tác động cố định) và REM (tác động ngẫu nhiên).
- Sử dụng kiểm định Hausman để chọn mô hình tối ưu giữa FEM và REM.
- Kiểm định các khuyết tật của mô hình được chọn: kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi và kiểm định hiện tượng tự tương quan.
- Sử dụng kỹ thuật hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) để khắc phục các khuyết tật mô hình, đảm bảo tính vững cho các kết quả ước lượng.
4. Hiệu quả kinh doanh và quy mô tài sản của các doanh nghiệp thực phẩm - đồ uống trong mẫu nghiên cứu biến động ra sao giai đoạn 2013–2019?
Giai đoạn 2013–2019 ghi nhận sự tăng trưởng liên tục về quy mô và hiệu quả tài chính:
- Tổng tài sản bình quân tăng liên tục từ 442 tỷ đồng (năm 2013) lên 870 tỷ đồng (năm 2019).
- Chỉ số ROE bình quân phục hồi ấn tượng từ mức âm -0,21% vào năm 2013 lên đạt đỉnh 16,73% vào năm 2015 và duy trì ở mức cao.
- Chỉ số ROA duy trì biên độ ổn định từ 7,5% đến 10% trong toàn bộ giai đoạn nghiên cứu.
5. Vì sao tỷ lệ doanh nghiệp thực phẩm - đồ uống đạt chuẩn công bố thông tin lại sụt giảm vào năm 2017 theo số liệu trích dẫn?
Theo báo cáo khảo sát của Vietstock và Báo Tài chính & Cuộc sống được tác giả trích dẫn, sự sụt giảm số lượng và tỷ lệ doanh nghiệp đạt chuẩn công bố thông tin trong năm 2017 là do sự ra đời của Thông tư 155/2015/TT-BTC với các quy định khắt khe, toàn diện hơn về nghĩa vụ công bố thông tin bắt buộc và tự nguyện, đòi hỏi các doanh nghiệp cần có thời gian thích ứng trước khi phục hồi tỷ lệ tuân thủ trong giai đoạn 2018–2020.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Huyền Thanh đã giải quyết khoảng trống học thuật về mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội và khả năng sinh lợi tại các doanh nghiệp ngành sản xuất thực phẩm - đồ uống niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2013–2019. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích nội dung để lượng hóa chỉ số $CSRD$ 4 khía cạnh và áp dụng kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng GLS xử lý triệt để các khuyết tật mô hình, công trình mang lại kết quả thực nghiệm có độ tin cậy cao. Các phát hiện và khuyến nghị trong khóa luận cung cấp luận cứ thực tiễn giá trị cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong định hướng phát triển bền vững và là tài liệu tham khảo phương pháp luận chuẩn xác cho các nghiên cứu tài chính doanh nghiệp tiếp theo.