CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA DOANH NGHIỆP 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI 1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1. Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (tiếng Anh: Corporate social responsibility, viết tắt: CSR).
Mỗi tổ chức, công ty, chính phủ nhìn nhận trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp dưới những góc độ và quan điểm riêng, phụ thuộc vào điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển của mình. Nhiều nhà quản lý doanh nghiệp đồng ý với một tuyên bố nổi tiếng của Milton Friedman năm 1970 rằng “có một và chỉ một trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp - đó là sử dụng nguồn tài nguyên của mình và tham gia vào các hoạt động nhằm tăng lợi nhuận.” Câu nói này khẳng định mục tiêu chủ yếu của doanh nghiệp là thỏa mãn nhu cầu của các cổ đông. Tuy nhiên, ngày càng nhiều doanh nghiệp đồng tình quan điểm rằng một công ty không thể hoạt động tốt nếu nó chỉ tối đa hóa lợi nhuận mà còn phải có nghĩa vụ đối với các bên liên quan và xa hơn nữa, đó là trách nhiệm với xã hội (EIC, 2005). Trách nhiệm xã hội được tiếp cận theo nhiều cách hiểu khác nhau.
Khái niệm trách nhiệm được hình thành trong những năm 50 của thế kỷ trước được đề cập trong cuốn sách Howard Rothmann Bowen (1953) như sau “Trách nhiệm xã hội là lòng từ thiện của doanh nghiệp để bù đắp những thiệt hại do doanh nghiệp gây ra làm tổn hại cho xã hội”. Keith Davis (1973) đưa ra khái niệm: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ.” Trong khi đó, Carroll (1999) cho rằng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn có phạm vi lớn hơn: “là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định.” Còn theo Matten và Moon (2004): “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là 8 một khái niệm chùm bao gồm nhiều khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường.” Theo Sheehy, Benedict (2015) “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (tiếng Anh: Corporate social responsibility, viết tắt: CSR) là một dạng hoạt động có quy tắc được các doanh nghiệp cam kết nhằm giúp doanh nghiệp đóng góp cho các mục tiêu xã hội dưới vai trò là một doanh nghiệp nhân đạo, hoạt động vì cộng đồng bằng cách tham gia, hỗ trợ các hoạt động tình nguyện hoặc thực hiện những hoạt động mang tính đạo đức”. Trước đây, những thuật ngữ này từng được hiểu như là một chính sách nội bộ riêng của một tổ chức hay một chiến lược đạo đức kinh doanh, nhưng điều này không còn chính xác bởi sự phát triển của rất nhiều những bộ luật quốc tế và cả việc hàng loạt các tổ chức đã sử dụng khả năng của mình để đưa thuật ngữ này vươn ra khỏi việc chỉ là một sáng kiến hay lý tưởng của vài cá nhân hay thậm chí là của một ngành nghề kinh doanh nhất định. Sau đó thuật ngữ này đã phát triển lên một tầm cao mới khi không còn chỉ là những quyết định mang tính tự nguyện dưới cấp độ của một cá thể tổ chức nào đó, mà đó còn là một chính sách bắt buộc phải có của bất cứ tổ chức nào dù ở tầm cỡ khu vực, quốc gia hay là vượt qua cả tầm quốc gia.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một phạm trù phức tạp và được định nghĩa theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau. Tuy nhiên, dù cách thể hiện hình thức diễn đạt ngôn từ có khác nhau song nội hàm phản ánh TNXH về cơ bản đều có điểm chung là bên cạnh những lợi ích phát triển riêng của từng DN phù hợp với pháp luật hiện hành thì đều phải gắn kết với lợi ích phát triển chung của cộng đồng xã hội. Nội hàm của TNXH DN bao gồm nhiều khía cạnh liên quan đến ứng xử của doanh nghiệp đối với các chủ thể và đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, từ người sản xuất, tiếp thị, tiêu dùng đến các nhà cung ứng nguyên liệu, vật liệu tại chỗ, từ đội ngũ cán bộ, nhân viên cho đến các cổ đông của doanh nghiệp, trong đó, có cả trách nhiệm về bảo vệ tài nguyên, môi trường mà thực chất cũng là có trách nhiệm chung với lợi ích cộng đồng xã hội, bao gồm cả những hoạt động nhân đạo, từ thiện, hoạt động đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước. 9 Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tác giả lựa chọn quan điểm của Sheehy, Benedict (2015) khi định nghĩa về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp làm cơ sở lý luận chính.
Theo đó, trách nhiệm xã hội được hiểu là “một dạng hoạt động có quy tắc được các doanh nghiệp cam kết nhằm giúp doanh nghiệp đóng góp cho các mục tiêu xã hội dưới vai trò là một doanh nghiệp nhân đạo, hoạt động vì cộng đồng bằng cách tham gia, hỗ trợ các hoạt động tình nguyện hoặc thực hiện những hoạt động mang tính đạo đức”. Các khía cạnh của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nhiều lãnh đạo của doanh nghiệp cho rằng, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tham gia vào các chương trình trợ giúp các đối tượng xã hội như hỗ trợ người tàn tật, trẻ em mồ côi, xây dựng nhà tình nghĩa, ủng hộ đồng bào lũ lụt và thiên tai. Điều đó là đúng nhưng hoàn toàn chưa đủ, mặc dù các hoạt động xã hội là một phần quan trọng trong trách nhiệm của một công ty. Quan trọng hơn, một doanh nghiệp phải dự đoán được và đo lường được những tác động về xã hội và môi trường hoạt động của doanh nghiệp và phát triển những chính sách làm giảm bớt những tác động tiêu cực.
Bởi lẽ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn là cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, hợp tác cùng người lao động, gia đình họ, cộng đồng và xã hội nói chung để cải thiện chất lượng cuộc sống cho họ sao cho vừa tốt cho doanh nghiệp vừa ích lợi cho phát triển. Vì vậy ngày nay một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội phải đảm bảo trên 4 khía cạnh: kinh tế, pháp lý, đạo đức và lòng bác ái. Trách nhiệm kinh tế: Tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả và tăng trưởng là điều kiện tiên quyết bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết từ động cơ tìm kiếm lợi nhuận của doanh nhân. Doanh nghiệp còn là các tế bào kinh tế căn bản của xã hội.
Các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp. Trách nhiệm pháp lý: Đây chính là một phần của bản “khế ước” giữa doanh nghiệp và xã hội. Nhà nước có trách nhiệm đưa các quy tắc xã hội, đạo đức vào văn bản luật để doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ đó một cách công bằng và đáp ứng được các chuẩn mực và giá trị cơ bản mà xã hội mong đợi. 10 Trách nhiệm đạo đức: là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa được đưa vào văn bản luật, do đó tuân thủ pháp luật chỉ được coi là sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra.
Doanh nghiệp còn cần phải thực hiện cả các cam kết ngoài luật. Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện, nhưng lại là trung tâm của TNXH của doanh nghiệp. Trách nhiệm từ thiện: là những hành vi của doanh nghiệp vượt ra ngoài sự mong đợi của xã hội. Điểm khác biệt giữa trách nhiệm từ thiện và đạo đức là doanh nghiệp hoàn toàn tự nguyện.
Nếu doanh nghiệp không thực hiện TNXH đến mức độ này, họ vẫn được coi là đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội mong đợi. Phương thức thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Nhận thấy được tầm quan trọng của trách nhiệm xã hội đến hiệu quả kinh doanh, quản lý, ngày càng có nhiều doanh nghiệp đầu tư thực hiện vấn đề này. Thông thường để thực hiện TNXH doanh nghiệp sẽ hướng tới đạt được một trong các thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế phổ biển hiện nay được trình bày dưới đây: ISO 45001:2018 là tiêu chuẩn ISO ra đời với mục đích xây dựng hệ thống quản lý sức khỏe và nghề nghiệp (OH&S – Occupational Health & Safety) được công nhận và áp dụng trên phạm vi quốc tế. Tiêu chuẩn ra được ra đời năm 2018, được xem là phiên bản thay thế, phát triển từ OHSAS 18001:2007.
Hướng tới mục tiêu quan trọng trong việc ngăn chặn, giảm thiểu rủi ro tai nạn lao động. ISO 45001:2018 giúp doanh nghiệp tuân thủ các quy định của pháp luật và những yêu cầu chứng minh năng lực của đối tác. SMETA là một phương pháp đánh giá, cung cấp tổng hợp những kỹ thuật đánh giá việc thực hành đạo đức của doanh nghiệp. Bộ tiêu chuẩn được thiết kế để đánh giá tất cả các khía cạnh của trách nhiệm doanh nghiệp.
Trong đó, gồm 4 trụ cột chính: người lao động, sức khỏe và tính an toàn, môi trường, đạo đức kinh doanh. BSCI viết tắt của cụm từ Business Social Compliance Initiative – Bộ tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ trách nhiệm xã hội trong kinh doanh ra đời năm 2003 từ đề xuất của Hiệp hội Ngoại thương (FTA). Bộ tiêu chuẩn này được thiết lập với mục 11 đích thiết lập diễn đàn chung cho các quy tắc ứng xử và hệ thống giám sát ở châu Âu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Để thực hiện BSCI doanh nghiệp cần được chỉ định từ đối tác.
Ngoài ra, BSCI không những là một tiêu chuẩn mà còn là một tổ chức liên kết các doanh nghiệp trên toàn thế giới, cùng nhau chia sẻ lợi ích. SA 8000 được thiết kế để trở thành tiêu chuẩn quốc tế có thể kiểm định. Trước hết, SA 8000 là tiêu chuẩn so sánh và đánh giá trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, thúc đẩy việc đảm bảo quyền cơ bản của người lao động trong doanh nghiệp. SA 8000 đặc biệt yêu cầu sự công khai trong các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Có 2 phương thức để thực hiện trách nhiệm xã hội với SA 8000. Một là tham gia với tư cách thành viên, được thiết kế dành cho các nhà phân phối.