Chương 1 nêu lý do lựa chọn chủ đề nghiên cứu, bao gồm lý do xuất phát từ thực tiễn và từ khoảng trống nghiên cứu được phát hiện qua quá trình tổng quan hệ thống các nghiên cứu trước. Ngoài ra, chương này cũng trình bày vấn đề nghiên cứu, xác định mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, qua đó thể hiện những đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn của nghiên cứu. Đồng thời chương này cũng trình bày tóm tắt cấu trúc của luận án.1 Lý do lựa chọn chủ đề nghiên cứu 1.1 Cơ sở từ thực tiễn Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã trở thành một phong trào thực thụ và phát triển rộng khắp thế giới (Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức, 2008). Người tiêu dùng ở các nước phát triển giờ đây ngoài việc quan tâm đến chất lượng của sản phẩm, họ còn quan tâm đến cả quá trình công ty sản xuất ra sản phẩm xem có thân thiện với môi trường và cộng đồng xung quanh hay không, có tính nhân đạo và có lành mạnh hay không.
Đã có nhiều phong trào tẩy chay sản phẩm của một số công ty do sản phẩm gây béo phì, gây nguy hại cho sức khỏe người tiêu dùng, hoặc do quá trình sản xuất không bảo đảm điều kiện lao động, bóc lột lao động trẻ em, do giá mua nguyên liệu không công bằng (Nguyễn Đình Tài, 2010). Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được du nhập vào Việt Nam cùng với hoạt động đầu tư của các công ty đa quốc gia, thông qua Bộ quy tắc ứng xử và văn hóa kinh doanh của các công ty này. Ví dụ như: chương trình “Tôi yêu Việt Nam” của công ty Honda Việt Nam; chương trình TOPIC64 (Chương trình ươm tạo trung tâm tin học cộng đồng bền vững tại 64 tỉnh thành) của các tập đoàn quốc tế lớn Microsoft, Qualcomm và HP; chương trình “Nhịp tim Việt Nam” do VinaCapital Foundation tài trợ; chương trình “Khôi phục thị lực cho trẻ em nghèo” của Western Union… (Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức, 2008). Đã có nhiều hội thảo về chủ đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được tổ chức trong thời gian qua với sự tham gia của các đại diện trong và ngoài nước.
Diễn đàn châu Á lần thứ tư về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp khai mạc sáng m 2 27/9/2007 tại Thành phố Hồ Chí Minh với sự tham gia của hơn 100 diễn giả và khoảng 500 nhà điều hành doanh nghiệp đến từ 25 quốc gia tại châu Á, châu Âu và Hoa Kỳ. Tại diễn đàn, Việt Nam đã được đánh giá cao về những nỗ lực thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân và giảm thiểu ô nhiễm khu vực sản xuất (TTXVN, 2007). Hội thảo “Nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam thông qua thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phối hợp cùng Đại sứ quán Đan Mạch tổ chức ngày 08/01/2008. Trong hội thảo này, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được nhìn nhận như một nội dung không thể thiếu trong chiến lược kinh doanh của từng doanh nghiệp, đóng góp vào mục tiêu thực hiện chiến lược quốc gia về xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường (Ngân Anh, 2008).
Diễn đàn doanh nhân Việt Nam với chủ đề “Phát triển bền vững và Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp” do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức ngày 08/10/2011 ở Hà Nội với hơn 250 đại biểu tham dự, tập trung vào các vấn đề như bảo vệ môi trường, chống tham nhũng, lao động nhập cư, đối thoại xã hội (VCCI, 2012). Bên cạnh đó, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng đã được nhiều cơ quan, ban, ngành quan tâm. Điển hình là “Giải thưởng Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp năm 2009 – CSR Award 2009” diễn ra ngày 24/7/2009 tại TP Hồ Chí Minh do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, và sự tham gia của Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội và Cục Cảnh sát môi trường. Các đơn vị tài trợ gồm Tổ chức Lao động Quốc tế, Tổ chức phát triển Công nghiệp Liên Hợp quốc, Mạng lưới Hiệp ước toàn cầu tại Việt Nam và đơn vị bảo trợ thông tin là Masso Group.
Đây là giải thưởng được kế thừa từ Giải thưởng Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trong ngành Da giày và Dệt may được Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức rất thành công trong năm 2005, 2006, và 2007 (Hoàng Thắng và Nam Tư, 2009). m 3 Tuy nhiên, những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam đã vì lợi nhuận mà quên đi trách nhiệm xã hội của mình. Điều này thể hiện qua các hành vi không trung thực trong kinh doanh, trong khai báo thuế, không đảm bảo an toàn lao động và sản xuất, gây ô nhiễm môi trường, kinh doanh hàng không đúng chất lượng công bố. Điển hình là các vụ xả nước thải không qua xử lý, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng của Công ty Veden, Công ty Miwon, Công ty Giấy Việt Trì; vụ nước tương có chứa chất 3-MCPD, thực phẩm có chứa hàn the, bánh phở có phormol, sữa có chất melamine.
Bên cạnh đó, nhiều đơn vị đã vi phạm các quy định về tiền lương, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, … gây nhiều bức xúc cho xã hội (Phạm Văn Đức, 2010). Khi các doanh nghiệp vẫn còn chưa nhận thức được phát triển bền vững là phương thức tối đa hóa lợi nhuận một cách hiệu quả nhất, thì việc xây dựng một cơ chế khuyến khích người tiêu dùng đứng ra tự bảo vệ các quyền lợi chính đáng của mình là điều tối cần thiết để hình thành ý thức về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam (Nguyễn Đình Tài, 2010). Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, vấn đề đặt ra chính là tìm hiểu nhận thức của người tiêu dùng về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, qua đó khuyến khích các doanh nghiệp quan tâm đến các hoạt động trách nhiệm xã hội như một chiến lược kinh doanh nhằm tạo thêm giá trị gia tăng cho doanh nghiệp. Đây chính là lý do tác giả chọn chủ đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp từ góc độ người tiêu dùng.2 Cơ sở từ tổng quan các nghiên cứu liên quan 1.1 Phương pháp tổng quan hệ thống Theo Fatma và Rahman (2015), một tổng quan hệ thống (systematic review) về các nghiên cứu trước là cần thiết để xác định mức độ của các nghiên cứu liên quan.
Tổng quan có hệ thống tóm tắt một cách rõ ràng những gì đã biết và chưa biết về một vấn đề cụ thể (Briner và cộng sự, 2009, trang 19). Denyer và Transfield (2009, trang 671) khẳng định rằng tổng quan hệ thống là một phương pháp cụ thể nhằm xác định các nghiên cứu đang có, lựa chọn và đánh giá các đóng góp, phân tích, tổng hợp dữ liệu và báo cáo bằng chứng nhằm đưa ra những kết luận rõ ràng hợp lý về những gì được và chưa được biết đến. Tổng quan xác định các khoảng m 4 trống kiến thức hoặc phát hiện ra vấn đề không phù hợp, qua đó thể hiện nhu cầu nghiên cứu và đặt ra các câu hỏi cho nghiên cứu trong tương lai. Do đó, tổng quan hệ thống là phương pháp được lựa chọn sử dụng để xác định khoảng trống nghiên cứu của đề tài này.2 Tiến trình thực hiện tổng quan hệ thống Tổng quan hệ thống được thực hiện dựa theo quy trình ba giai đoạn của Tranfield và cộng sự (2003).
Giai đoạn trước tiên là lập kế hoạch thực hiện tổng quan. Tác giả xác định chủ đề nghiên cứu là ảnh hưởng của các hoạt động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được người tiêu dùng nhận thức. Mục tiêu thực hiện tổng quan là tìm hiểu những gì đã biết và chưa biết trong nghiên cứu về sự tác động của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhằm khám phá khoảng trống nghiên cứu, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu hiện tại. Phạm vi tổng quan cũng được giới hạn trên quan điểm của người tiêu dùng và trong bối cảnh B2C.
Giai đoạn thứ hai là thực hiện đánh giá các nghiên cứu trước theo bốn bước của Moher và cộng sự (2009) là thu thập tài liệu (identification), sàng lọc tài liệu đã thu thập (screening), lựa chọn các tài liệu đủ điều kiện (eligibility), và xác định các tài liệu được đưa vào phân tích hệ thống (included). Quá trình này được mô tả qua Hình 1. Trước tiên, việc thu thập tài liệu được thực hiện bằng cách xác định từ khóa tìm kiếm, chọn cơ sở dữ liệu để thu thập, xác định tiêu chí tìm kiếm và tiêu chí loại trừ dữ liệu. Các từ khóa được sử dụng để tìm kiếm bao gồm: corporate social responsibility (trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp), CSR, social responsibility (trách nhiệm xã hội), corporate social performance (thành quả xã hội của doanh nghiệp), và CSP.
Nhằm làm phong phú dữ liệu tham khảo để tìm hiểu đầy đủ hơn về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, tác giả đã thực hiện tìm kiếm qua các cơ sở dữ liệu trực tuyến mở như: Google Scholar, Google Search, ResearchGate, Emerald Insight, Science Direct,…Ngoài ra, nhằm mở rộng cơ sở dữ liệu, việc tìm kiếm bổ sung dựa vào danh mục tài liệu tham khảo của các tài liệu đã được thu thập cũng được thực hiện nhằm tránh việc bỏ sót tài liệu khi tìm bằng từ khóa. Kết quả của quá trình thu thập tài liệu này là 391 tài liệu toàn văn được tìm thấy. Bước tiếp theo m 5 là sàng lọc tài liệu đã thu thập theo mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đã xác định. Cơ sở dữ liệu được giới hạn thời gian xuất bản sau năm 2000 (loại 16 tài liệu).
Trang web SCImago1 được sử dụng để kiểm tra các tạp chí không có trong danh sách Scopus bị loại trừ (loại 101 tài liệu) nhằm đảm bảo chất lượng nguồn tham khảo. Việc sàng lọc tài liệu loại trừ các working paper hay nghiên cứu đang chờ hoàn thiện (loại 5 tài liệu), luận văn và luận án (loại 9 tài liệu), các báo cáo về trách nhiệm xã hội được thực hiện bởi các tổ chức (loại 7 tài liệu), và các sách hoặc các chương của sách (loại 15 tài liệu). Cơ sở dữ liệu sau đó được thu hẹp lại qua quá trình xem xét tiêu đề và đọc tóm tắt của các nghiên cứu để loại các tài liệu không liên quan đến chủ đề (loại 15 tài liệu).