Chương 1 trình bày tổng quan nghiên cứu về các nái dung: sự cần thiết căa nghiên cứu, māc tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, đối tưÿng và ph¿m vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, các đóng góp mới căa luận án và kết cấu nái dung căa luận án 1. Să cÅn thi¿t cÿa nghiên cāu 1. VÁ mặt thăc tián t¿i Viãt Nam Trong mát thế giới công nghệ thông tin ngày càng phát triển, xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa trá thành mát tất yếu khách quan, mối quan hệ giữa các nền kinh tế ngày càng mật thiết và gắn bó, ho¿t đáng giao lưu thương m¿i giữa các quốc gia ngày càng phát triển m¿nh mẽ thì sự c¿nh tranh giữa các doanh nghiệp cũng ngày càng gay gắt (Bùi Văn Trịnh, 2022)[13]. Trước đây, các công ty dùng biện pháp đa d¿ng hóa mẫu mã sÁn phẩm, nâng cao chất lưÿng hàng hóa làm biện pháp c¿nh tranh hữu hiệu để giành lÿi thế trên thương trưßng.
Hiện nay, các công ty chú ý tới việc căng cố hình Ánh, nâng cao uy tín, phát triển thương hiệu thông qua việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đ¿o đức kinh doanh là mát giÁi pháp đang đưÿc áp dāng và bước đầu đem l¿i hiệu quÁ tích cực. Các doanh nghiệp muốn khẳng định đưÿc thương hiệu trên thị trưßng thì điều mà họ hướng tới bây giß là việc thực hiện tốt Trách nhiệm xã hái doanh nghiệp (CSR). Trách nhiệm xã hái doanh nghiệp đưÿc xem như là mát trong những triết lí kinh doanh cơ bÁn và luôn song hành với chiến lưÿc phát triển căa doanh nghiệp, góp phần quan trọng vào sự thành công bền vững, giúp doanh nghiệp thực hiện đưÿc tầm nhìn, sứ mệnh căa mình (Adams và Frost 2006[16]). Cā thể hơn, trách nhiệm xã hái là sự khẳng định căa các doanh nghiệp không chỉ ho¿t đáng vì lÿi ích căa cổ đông mà còn vì lÿi ích căa các bên liên quan khác như ngưßi lao đáng, khách hàng, cáng đồng, Chính phă và môi trưßng.
Trên thế giới trong những năm gần đây, trách nhiệm xã hái doanh nghiệp đang là xu thế lớn m¿nh trên thế giới và giành đưÿc sự quan tâm ngày càng tăng căa các doanh nghiệp (Young & Thyil, 2009[154]; Lee & Park, 2012[99]; McGehee và cáng sự, 2009[117]) và đã trá thành mát chă đề quan trọng trong các nghiên cứu (Burton & Goldsby, 2009[32]). Như vậy, rõ ràng trách nhiệm xã hái doanh nghiệp đang là xu 2 thế lớn m¿nh trên thế giới, trá thành mát yêu cầu <mềm= đối với các doanh nghiệp trong quá trình hái nhập, nhưng á Việt Nam vấn đề này vẫn còn khá mới mẻ và chưa đưÿc các doanh nghiệp quan tâm đúng mức (Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức, 2009[2]). Việt Nam đang trên đà hái nhập ngày càng sâu và ráng với nền kinh tế quốc tế, nếu muốn tồn t¿i và phát triển các doanh nghiệp Việt Nam buác phÁi tuân theo xu hướng toàn cầu đó là thực hiện trách nhiệm xã hái căa doanh nghiệp. Từ đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần nhận thức sâu sắc hơn về lÿi ích thực hiện trách nhiệm xã hái mang l¿i cho các doanh nghiệp.
Như vậy, liệu CSR có phÁi là mát công cā hß trÿ các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực c¿nh tranh thông qua tăng cưßng hiệu quÁ ho¿t đáng, hiệu quÁ tài chính, nhằm hướng tới phát triển bền vững? Mát vấn đề quan trọng trong quÁn trị và điều hành doanh nghiệp là Ánh hưáng căa CSR đối với ho¿t đáng căa doanh nghiệp, đặc biệt là ho¿t đáng tài chính. Mát số nghiên cứu cho rằng CSR là tốn kém vì làm tăng thêm chi phí và những chi phí này sẽ làm giÁm lÿi nhuận và giÁm năng lực c¿nh tranh căa doanh nghiệp (Alexander & Buchholz, 1978[19]). Ngưÿc l¿i, quan điểm trái ngưÿc đưÿc đưa ra dựa trên lý thuyết các bên liên quan đưÿc đưa ra bái Freeman vào 1984. Sự không hài lòng căa bất kỳ các bên liên quan sẽ Ánh hưáng đến giá thuê và sự thỏa hiệp trong tương lai căa doanh nghiệp (Clarkson, 1995[43]).
CSR là điều kiện tiên quyết để đÁm bÁo lÿi nhuận (Epstein & Rejc-Buhovac, 2014[54]). Nếu đưÿc quÁn lý tốt, CSR không chỉ làm tăng sự hài lòng căa các bên liên quan mà còn dẫn đến sự cÁi thiện hiệu quÁ tài chính (Aver & Cadez, 2009[23]). Hoặc mát số nghiên cứu l¿i chỉ ra việc không có mối quan hệ giữa CSR và hiệu quÁ tài chính doanh nghiệp (McWilliams & Siegel, 2000[118]). Như vậy rõ ràng, nhiều nghiên cứu trên thế giới về vấn đề này l¿i cho thấy những kết quÁ không giống nhau.
Ngoài ra, ta có thể thấy sự khác biệt chính giữa các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung nằm á quyền điều hành, quÁn lý nằm á chă doanh nghiệp (Soana, 2011[139]). Đặc điểm này hß trÿ các doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dāng CSR vào thực tiễn, lý do là vì hầu hết các quyết định đều do các chă doanh nghiệp nhỏ và vừa quyết định. Có thể nói các chă doanh nghiệp nhỏ và vừa có tác đáng lớn trong việc ra quyết định, khái xướng và thực hiện các ho¿t đáng CSR căa 3 doanh nghiệp (Williams & Schaefer, 2013[149]). Điều này có nhiều tương đồng với nền kinh tế t¿i Việt Nam khi có nhiều đặc điểm về môi trưßng và điều kiện kinh doanh khác biệt so với các nước đang phát triển để có thể đưa các lý thuyết và kết quÁ nghiên cứu trước đây về CSR vào thử nghiệm.
Mát yếu tố có thể xem xét đó là nền kinh tế Việt Nam với đặc điểm chă yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng rất lớn, giai đo¿n 2011-2015 là thành lập mới 350.000 doanh nghiệp và đến cuối năm 2016, cÁ nước có khoÁng 700.000 doanh nghiệp ho¿t đáng (Lê Phước Hưng và Lưu Tiến Thuận, 2017[6]). Do đó, tác giÁ nhận thấy việc cần thiết má ráng các nghiên cứu trước đây về trách nhiệm xã hái, về mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hái và hiệu quÁ tài chính đối với các doanh nghiệp hướng đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa t¿i Việt Nam. Lÿi ích căa việc nghiên cứu này phù hÿp với bối cÁnh nền kinh tế căa Việt Nam hiện nay, khi các doanh nghiệp nhỏ và vừa đưÿc đánh giá là có Ánh hưáng tích cực đến sự phát triển kinh tế. Nhß đó, các doanh nghiệp khi ho¿t đáng có thực hiện trách nhiệm xã hái sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững.
Đồng thßi, các xu hướng nghiên cứu trên thế giới về trách nhiệm xã hái sau thßi gian đầu tập trung vào các nước phát triển đang chuyển hướng sang các nước đang phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia, Việt Nam&. Theo Báo cáo Phát triển bền vững căa Công ty nghiên cứu thị trưßng Nielsen năm 2017, ngưßi tiêu dùng Việt có tinh thần hướng đến xã hái và sự phát triển bền vững cao nhất trong khu vực Đông Nam Á. Có đến 86% ngưßi tiêu dùng Việt Nam sẵn sàng chi trÁ cao hơn để mua sắm sÁn phẩm, dịch vā từ các công ty bán hàng có Ánh hưáng tích cực đến xã hái và môi trưßng. Và theo khÁo sát căa tổ chức National Forest năm 2017, 81% khách hàng lựa chọn mua sÁn phẩm bÁo vệ môi trưßng và 73% ngưßi lao đáng sẽ trung thành với các nhà quÁn lý doanh nghiệp tham gia các ho¿t đáng hß trÿ giúp đỡ cáng đồng, từ thiện.
Do đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa á Việt Nam hiện nay đã nhận thấy sự thay đổi trong nhận thức và hành vi căa ngưßi tiêu dùng để có những bước triển khai ho¿t đáng trách nhiệm xã hái và xem đây là mát trong những chiến lưÿc c¿nh tranh bền vững để xây dựng hệ thống khách hàng trung thành (Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức, 2009[2]). Tuy nhiên, qua đánh giá việc thực hiện CSR t¿i các doanh nghiệp nhỏ và vừa t¿i Việt Nam hiện nay vẫn gặp nhiều khó khăn và chưa có các chính sách và quy 4 định cā thể, đặc biệt là có nhiều h¿n chế về nguồn vốn và lao đáng so với các doanh nghiệp á quy mô lớn. Trên thực tế việc thực hiện CSR chă yếu vẫn đưÿc thực hiện chă yếu t¿i các doanh nghiệp FDI từ các nước phát triển và các tập đoàn lớn trong nước (Munro và cáng sự, 2018[120]). Nhiều lý do đưÿc đưa ra trong nhiều nghiên cứu nhưng phần lớn vẫn là do các nhà quÁn lý doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa nhận thức rõ đưÿc các lÿi ích khi thực hiện CSR mang l¿i cho doanh nghiệp hoặc các ho¿t đáng thực hiện CSR là những ho¿t đáng còn rßi r¿c trong doanh nghiệp, chưa mang l¿i mát sự liên kết với các ho¿t đáng khác căa doanh nghiệp để đem l¿i hiệu quÁ lâu dài về mặt chiến lưÿc trong tổ chức.
Chính vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu t¿i Việt Nam đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa là rất cần thiết để đưa ra các bằng chứng thực nghiệm giúp các nhà quÁn lý doanh nghiệp nhỏ và vừa nhận thức và hiểu rõ hơn các tác đáng lÿi ích nhận đưÿc khi thực hiện các ho¿t đáng CSR trong doanh nghiệp. Từ đó, ho¿t đáng CSR trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa t¿i Việt Nam sẽ đưÿc triển khai ráng rãi hơn và trá thành mát điểm nhấn quan trọng trong việc phát triển bền vững nền kinh tế xanh hiện nay. VÁ bçi cÁnh nghiên cāu Cùng với sự phát triển căa thực tiễn xã hái, trách nhiệm xã hái cũng trá thành mát chă đề thu hút sự quan tâm căa các nhà nghiên cứu trong giai đo¿n 2015-2020 t¿i Việt Nam. Trong các nghiên cứu về CSR, các nhà nghiên cứu cho rằng việc thực hiện CSR là mát yếu tố thiết yếu nhằm mang l¿i sự phát triển bền vững và thành công cho các doanh nghiệp trong giai đo¿n hiện nay.
Nhiều nghiên cứu tập trung nghiên cứu nhằm chứng minh rằng CSR không chỉ giúp các doanh nghiệp gia tăng uy tín và hình Ánh trong xã hái mà còn mang l¿i các hiệu quÁ và lÿi ích kinh tế. Theo đó, số lưÿng nghiên cứu về CSR cũng đưÿc quan tâm và gia tăng trong những năm gần đây. Bắt đầu từ năm 2015 đến 2020, có tổng cáng 93 nghiên cứu công bố liên quan đến CSR – CFP trên các dữ liệu nghiên cứu chung như Web of Science, ProQuest, Science Direct và Google Scholar.