lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục Luận văn gồm 3 chương: Chuong 1: Cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng hoạt động trách nhiệm xã hội tại Tổng công ty Đông Bắc Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trách nhiệm xã hội tại Tổng công ty Đông Bắc 19 CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE TRACH NHIEM XA HOI DOANH NGHIEP 1. Khai niém vé trach nhiém xa hi doanh nghiép Carroll (1979, trang 500) định nghĩa: “Trách nhiệm xã hội cua doanh nghiệp bao hàm các kì vọng của xã hội về kinh tế, pháp luật, đạo đức và thiện nguyện mà một doanh nghiệp cần đáp ứng tại một thời điểm nhất định”. Sau khi đưa ra định nghĩa, Carroll (1991) xây dựng một khung khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo mô hình kim tự tháp, giải thích cụ thể hơn: trách nhiệm về mặt kinh tế; trách nhiệm trước pháp luật; trách nhiệm về mặt đạo đức; trách nhiệm thiện nguyện. Vì vậy, Carroll (1991, trang 42) cũng khẳng định, trách nhiệm thứ tư này mang tính chất tự nguyện và ít quan trọng hơn so với ba loại trách nhiệm kia.
Dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau song đều cho thấy khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đề cập đến mối quan hệ và sự tương tác giữa doanh nghiệp và các bên liên quan tới lợi ích của doanh nghiệp trên cơ sở tự nguyện. Một số nhận định cho rằng việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp gắn liền với điều kiện văn hóa, kinh tế và chính trị mỗi nước (Matten & Moon, 2008). Vì vậy sẽ luôn có những khác biệt trong quan niệm thực tiễn thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp giữa các quốc gia. Năm 1992, báo cáo Cadbury được Ủy ban Cadbury (là tên gọi tắt của Ủy ban về các khía cạnh của quản trị doanh nghiệp trong tài chính) công bố, từ đó các công ty hàng đầu trên thế giới cho ra các bộ quy tắc ứng xử và hướng dẫn quản trị doanh nghiệp (corporate governance) định hướng theo các nguyên tắc của trách nhiệm xã hội.
Có những quốc gia như Ấn Độ có quy định bắt buộc về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Ví dụ, luật công ty năm 2013 của Ấn Độ quy định những công ty có doanh thu hơn 10 tỷ ru-pi trong năm phải chỉ 2% lợi nhuận ròng cho hoạt động từ thiện. Không giống các hoạt động đầu tư tài chính khác, ảnh hưởng của thực hiện trách nhiệm xã hội tới doanh nghiệp thường được quan sát dựa trên phản ứng của các bên có lợi ích liên quan tới doanh nghiệp như nhân viên, cộng đồng, quỹ từ thiện, các nhà hoạt động xã hội, cơ quan truyền thông (Freeman, 1984). Phản ứng đó có thể tích cực, tiêu cực hay trung lập.
Việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thể trở thành một động lực mạnh mẽ cho nhân viên nói riêng và doanh nghiệp nói chung 20 xây dựng sức mạnh trong kinh doanh, đồng thời cũng có thể đóng vai trò là tác nhân thúc đây sự cam kết trung thành của nhân viên. Bên cạnh các nghiên cứu có ý nghĩa nền tảng như trên, một số quan điểm về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp cũng được đưa ra ở nhiều khía cạnh khác nhau: - Có quan điểm cho rằng, thực chất phải thay khái nhiệm CSR bằng khái niệm SR (Social Responsibility) “trách nhiệm xã hội nói chung” chứ không dừng ở trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trong xã hội ngày nay, đề thực sự có một xã hội tốt đẹp cần đến trách nhiệm của tất cả các chủ thể và khách thê trên hành tinh trong việc duy trì và phát triển đối với các hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường. - SER (Social and Environmental Responsibility): Trach nhiệm xã hội và môi trường, mở rộng ở hai khía cạnh bao gồm cả trách nhiệm xã hội và trách nhiệm đối với môi trường.
Con người không phải là chủ thể duy nhất tồn tại trên hành tính, nhưng trên thực tế con người đang tự cho mình quyền kiểm soát và quyết định mọi thứ trong hệ sinh thái của trái đất mà quên đi sự tồn tại và ý nghĩa của các động vật và cá thể sống khác. Vấn đề môi trường đang là vấn đề sống còn của xã hội ngày nay khi mà xã hội-môi trường đang chứa chất quá nhiều điều bất ôn từ các quyết định một cách tự do thậm chí vô ý thức của con người nhằm thực hiện nhiệm vụ “cải thiện và nâng cao” chất lượng cuộc sống của riêng họ mà không quan tâm tới sự tồn tại của môi trường và muôn loài trên trái đất. Trách nhiệm xã hội và môi trường là khái nệm bao quát đầy đủ nhất, tuy nhiên, chính vì sự toàn điện của khái niệm này nên phạm vi ảnh hưởng và tính thực tiễn lại tương đối khó khả thi bởi có quá nhiều đối tượng cần tham gia và đóng góp trách nhiệm thực thị. - CSR (Corporate Social Responsibility): là sự bao hàm của ba khái niệm; doanh nghiệp, xã hội và trách nhiệm.
CSR chỉ ra mối liên hệ giữa doanh nghiệp (hoặc các tổ chức) và cộng đồng xã hội có liên quan. Theo đó, “xã hội” được hiểu theo một nghĩa rộng bao gồm nhiều cấp khác nhau trong đó có cả các bên hữu quan có lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Xét về bản chất, CSR có thể bao hàm chuẩn mực mà các bên liên quan bên trong và bên ngoài coi là đúng đắn và công bằng, hưởng ứng lại sự mong đợi của xã 21 hội về quyền công dân, hoặc bao gồm các chương trình đang hoạt động nhằm thúc đầy phúc lợi của con người. Một số khái niệm khác về CSR cũng được các tác giả khác nhau đề cập tới trong các tác phẩm của mình.
Theo Porter và Kramer (2011), CSR là những giá trị được chia sẻ (shared value), là sự hòa nhập, hội nhập của doanh nghiệp với xã hội (corporate social integration). Con theo tac gia Wood (2010), CSR được hiểu theo nghĩa rộng hơn, đồng thời có ba cấp độ phân tích về CSR là cá nhân, tổ chức va thé chế, tương ứng với trách nhiệm xã hội về đạo đức, xã hội và kinh tế. Hội đồng Kinh doanh Thể giới vì Sự phát triển Bén ving (World Business Council for Sustainable Development) cũng đã đưa ra một định nghĩa về CSR, đó là “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, anh toàn lao động, quyên lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đông, bảo đảm tốt chất lượng sản phẩm,. theo cách có lợi cho doanh nghiệp cũng như cho sự phát triển chung của xã hội”.
Nói tóm lại, CSR là một khái niệm rộng có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Tuy nhiên, xét về mặt tổng quát thì CSR chính là việc doanh nghiệp thực hiện một cách tự nguyện các hoạt động vì mục đích xã hội như: tuân thủ pháp luật, thực hiện và đảm bảo quyền con người, phục vụ cộng đồng địa phương, sử dụng tài nguyên hợp lý và bảo vệ môi trường. Vai trò của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp luôn là chủ đề được doanh nghiệp xem xét ở góc độ vai trò, không có ít quan diém cho rằng đó bản chất là hoạt động từ thiện và việc tích cực thực hiện hay không sẽ phụ thuộc vào từng doanh nghiệp và là hoạt động không mang tính bắt buộc. Tuy nhiên, vai trò của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp thể hiện cụ thể ở các khía cạnh sau đây: - Kiến tạo xã hội và tái cân bằng lợi ích xã hội Thực hiện CSR là một việc làm tốt đẹp đối với cộng đồng và môi trường nơi mà các doanh nghiệp đang thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, đây không chỉ là hành động có tính nhất thời mà là đích đến mà các doanh nghiệp cần đạt được.
Thực 22 chất, CSR chính là sự hài hòa, đảm bảo lợi ích và sự ứng xử tốt đẹp cho tất cả các chủ thể trong xã hội với một thái độ và hành vi tích cực nhất. Thay cho việc thỏa mãn lợi ích hoặc tối đa hóa lợi ích của một nhóm các đối tượng có liên quan đến doanh nghiệp như cô đông, người quản lý hay người lao động, CSR luôn đảm bảo sự cân bằng lợi ich cho các chủ thê trong xã hội thông qua các hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp đối với tat cả các đối tượng có liên quan. Chính điều này đã nói lên tinh thần kiến tạo xã hội và tái cân bằng lợi ích xã hội mà CSR mang lại. - Tạo lập một thói quen kinh doanh vì xã hội, vì cộng đồng thay cho chỉ vì cá nhân, vì cỗ đông Mục tiêu lớn nhất của mỗi doanh nghiệp không phải là doanh thu và lợi nhuận, mà đó chính là những đóng góp và cống hiến cho xã hội.
Khi mục tiêu cống hiến và đóng góp cho xã hội đạt được thì mục tiêu doanh thu và lợi nhuận cũng dần trở thành hiện thực. Chính vì vậy, ngay từ khi thành lập, một doanh nghiệp đã có ý thức và thói quen kinh doanh vì xã hội, vì cộng đồng sẽ tạo lập được một nền tảng vững chắc và sẽ tạo nên sự kết nối tốt nhất tới các nguồn lực và chủ thê có liên quan tới doanh nghiệp. CSR sé khong thé tự nhiên xuất hiện ở mỗi doanh nghiệp khi không có sự quan tâm, nhận thức và hành động từ những việc làm nhỏ nhất đối với các chủ thể trong nội bộ doanh nghiệp cho tới những hoạt động có tính quy mô đối với tất cả các chủ thể bên ngoài môi trường doanh nghiệp. - Tạo sự phát triển lâu dài và bền vững cho doanh nghiệp Khi một doanh nghiệp thực hiện tốt CSR và doanh nghiệp được xã hội và cộng đồng đánh giá cao có nghĩa rằng ở doanh nghiệp đó, lợi ích của cổ đông được bảo đảm, lợi ích của người lao động được quan tâm và duy trì ôn định, lợi ích của khách hàng được tối đa hóa, lợi ích của đối tác được cân bằng và ồn định, lợi ích của chính quyền địa phương được cải thiện, môi trường sống của địa phương và xã hội được đảm bảo và các lợi ích khác rất được quan tâm thì chắc chắn doanh nghiệp đó là doanh nghiệp phát triển và có khả năng tồn tại lâu dài.