lời mở đầu, kết luận và tải liệu tham khảo. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương một đã giới thiệu tổng quan về đẻ tài nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu. Chương hai sẽ tiếp tục giới thiệu các lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, lòng trung thành của khách hàng. Đồng thời xây dựng mô hình lý thuyết cũng như các giả thuyết về môi quan hệ giữa trách nhiện xã hội doanh nghiệp với lòng tin, lòng trung thành của khách hàng trong ngành Khách sạn.
Khái niệm về CSR: Thuật ngữ "Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp" (CSR) đang được nhắc tới với tần suất dày hơn trong những năm gần đây. CSR dần trở thành một bộ chỉ số thiết yếu để đo lường hoạt động của một doanh nghiệp. Để dam bao su ton tại và phát triển bền vững, Doanh nghiệp cần tích hợp các quan tâm của xã hội trong các hoạt động của mình. Trước đây, nhiều người cho rằng doanh nghiệp không có trách nhiệm gì đối với xã hội mà chỉ có trách nhiệm với cô đông và người lao động.
Doanh nghiệp đã đóng thuế cho chính phủ, nên chính phủ sẽ phải có trách nhiệm với xã hội. Trái lại, một số người khác cho rằng doanh nghiệp đã sử dụng các nguôn lực trong xã hội. trong quá trình hoạt động gây tên hại cho môi trường tự nhiên. Vì vậy chỉ đóng thuế là chưa đủ, doanh nghiệp phải có "tránh nhiệm xã hội" đối với môi trường, cộng đồng và người lao động.1 Sự hình thành và phát triển khái niệm về CSR Năm Sự phát triển khái niệm về CSR Ghi cha 1953 Bowen “Trach nhiém xã hội của doanh nhân” (Social Responsibilities of the businessmen).
- Tuyén truyén va kéu gol người quản lý không làm tổn hại đến quyên lợi của người khác; kêu gọi lòng từ thiện của doanh nghiệp nhằm bỏi hoàn những tồn that cho xã hội. 1963 McGuire - De cap tới ý tưởng về TNXHDN cho rằng một công ty không chỉ có nghĩa vụ về mặt kinh tế và chấp hành luật pháp mà còn phải có những trách nhiệm nhất định khác đối với xã hội. Những trách nhiêm này phải được *Giai đoạn 1950-1969 -Những nghiên cứu học thuật chính thức về CSR đầu tiên được công bố bắt đầu. -Giai đoạn mày.
CSR phát triển chủ yếu về “lời nói” hơn “hành động”, các nhà Quản trị dân làm quen với khái niệm CSR vả dần thay đổi thái đô. nhưng rất ít mở rộng và vượt lên trên những nghĩa vụ, bôn doanh nghiệp thực hiện những hoạt động CSR (Carroll, 2008) - Trach nhiém xã hội của doanh nghiệp. - Có một và chỉ một trách nhiệm duy nhất đó là tối đa hóa lợi nhuận trong khuôn khổ *Giai đoạn 1970-1989 -Carroll (2008) gọi thời kỳ nay là thời kỳ tăng tốc của a luật chơi của thị trường vả không bao gôm cdc | CSR; Giai đoạn nay cũng hành động dẫn đến sự hiểu lầm và gian lân |có nhiều “lời nói” hơn (Khang định vai trò to lớn của CSR là tối đa | “hảnh động”. Nhưng dan hoá lợi nhuận) có sáng kiên pháp lý bắt CED (Uy ban Phat Trién ben ving) dau dé cap dén nhimg khia 1971 “ Doanh nghiệp vận hành theo một khế ước xã | cạnh nhất định của CSR.
CED hội và mục đích cơ bản của nó là phục vụ những | Những sáng kiến này đã nhu cầu của xã hội — thoả mãn xã hội”. yêu câu “Các doanh nghiệp -*Trách nhiệm xã hội hàm ý nâng cao hành vi thiết lập những cơ chế 1975 | của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các | trong tô chức tuân thủ theo Sethi quy p phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phô luật quốc gia và giải - quyết biển”. được các vân đẻ vẻ mỗi 1979 -“CSR bao gom su mong đợi của xã hôi về kinh trường, sự an toản sản Camoll tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối voi | pham. (Carroll, 2008) các tô chức tại một thời điểm nhất định”.
~Mô hình kim tự tháp. — 1991 -Trach nhiém xa hội doanh nghiệp bao gỏm 4 | - 1992: Xuất hiện một tổ Carroll | trách nhiệm: kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ | chức phi lợi nhuận “Doanh thiện. nghiệp vì trách nhiệm xã - CSR là một cơ chế mà trong đó, các công ty | hội (BSR) - là tổ chức đầu 1999 _ | gánh vác các trách nhiệm kinh tế, luật pháp, đạo | tiên thành lập theo mô hình Maignan, | dite và các trách nhiệm tức thời khác, mà các cô | mà một nhóm các doanh Ferrell và | đông liên quan đặt lên các hoạt động của họ. nhân tạo ra nhằm giúp các Hult công ty hành xử một cách có trách nhiệm hơn.
-Cam kết của doanh nghiệp đóng góp và việc | *Thời kỳ đâu thể kỷ 21 đến 2000 phát triển kinh tế bẻn vững, thông qua những | nay: a WBSCD hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống | -Đặc trưng của giai đoạn của người lao động và các thành viên gia đình | nảy là sự quan tâm ngảy ho. cho công đồng và toàn xã hôi. cảng gia tăng đến các 2005 -CSR là sự cam kết bởi một công ty đê cải tiên | “hành động CSR thực tế" Kotler và phúc lợi cho xã hội băng việc thực hiện các hoạt Lee động nhất định vả gia tăng sự san sang các nguôn lực của nó. -Tiéu chuan trach nhiệm xã hội doanh nghiệp 2010 gom 7 nhân tô cốt lõi: Quản trị doanh nghiệp, ISO quyền con người, đối xử với người lao động, 26000 | môi trường, quản trị tổ chức minh bạch, người tiêu dùng và đóng góp công đồng.
Kết luận chung: Các định nghĩa về CSR trên cho thây, dù hình thức thê hiện hay ngôn từ điển đạt có khác nhau, song nội hàm của CSR vẻ cơ bản đều có diém thong nhat chung là: Bên cạnh với việc phát triên lợi ích riêng, tìm kiềm lợi nhuận, phát triển danh tiếng, củng cố lòng tin của khách hàng. thì doanh nghiệp vẫn luôn gắn kết với sự phát triển bên vững chung của cộng đồng xã hội. Nguồn: Tác giả tổng hợp Vay CSR la gi? - CSR la viet tắt cua cum tir Corporate social responsibility duoc dich là Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là cam kết của doanh nghiệp đối với đạo đức kinh doanh và đóng góp vào phát triển kinh tế bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động và gia đình họ, cộng đông địa phương và xã hội nói chung. ~ Có nhiều định nghĩa về CSR qua thời gian (bảng 2.l): Bowen (1953) định nghĩa CSR là “nghĩa vụ của thương nhân theo đuổi các chính sách để đưa ra quyết định hoặc những hành động cần thiết về các mục tiêu vả giá trị cho xã hội”.
Tâm đắc với triết lí của Bowen, Carroll (1991) phát triên cụ thể khái niệm CSR, và làm rõ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lí, đạo đức và nghĩa vụ thiện nguyện mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định. Quan điểm của Carroll (Carroll, 1999) gồm mô hình kim tự tháp 4 thành phân: Trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lí (pháp luật), trách nhiệm đạo đức, và trách nhiệm thiện nguyện (từ thiện, nhân văn) tách biệt nhau và tuân theo một thứ tự cấp bậc giảm dần: được nhiều nghiên cứu thực tiễn và khoa học chấp nhận: (1) Trách nhiệm kinh tễ (economic responsibility): Trong suốt quá trình lịch sử, các doanh nghiệp được thành lập đề trở thành một thực thể về kinh tế, nhằm cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các thành viên xã hội. Mục tiêu về lợi nhuận được xây dựng như là động cơ căn bản nhất của việc kinh doanh. Trước khi thực hiện bất cứ mục tiêu gì khác, doanh nghiệp là thành phân kinh tế căn bản của xã hội.
Thế nên, mục đích cơ bản của doanh nghiệp là sản xuất những hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng cần và muốn, và tạo ra một mức lợi nhuận chấp nhận được thông qua quá trình kinh doanh. Tắt cả những loại trách nhiệm khác của doanh nghiệp đều được xây dựng dựa vào trách nhiệm kinh tế, bởi vì không có nó thì những loại trách nhiệm khác trở thành những sự xem xét có thể gây tranh cãi. (2) Trach nhiém phap ly (legal responsibility): Xã hội không chỉ trông đợi doanh nghiệp hoạt động theo mục tiêu lợi nhuận, mà cùng lúc đó, doanh nghiệp được xã hội trông đợi sẽ tuân thủ pháp luật, hoạt động theo những điều luật được quy định chính thức bởi chính phủ và các cơ quan chức năng. Như là một phần của “hợp đồng xã hội” (social contract) giữa doanh nghiệp và xã hội, các công ty được kỳ vọng sẽ đeo đuôi những sứ mệnh về kinh tế của nó trong khuôn khổ mà luật pháp quy định.
Trách nhiệm pháp lý được mô tả như tâng tiếp theo trong kim tự tháp CSR. Phạm vi của trách nhiệm này được áp dụng không chỉ bởi các doanh nghiệp mà còn bởi các cá nhân khi họ là một thành viên của đoanh nghiệp đó. (3) Trách nhiệm dao dite (ethical responsibility): Trách nhiệm đạo đức bao gồm những hoạt động được trông đợi hoặc bị cam cản bởi những thành viên của xã hội mặc dù những hoạt động này không được đề cập đến trong luật pháp. Trách nhiệm đạo đức bao gồm những tiêu chuẩn, hay mong đợi phản ánh sự quan tâm của công ty đến những gì mà người tiêu dùng, nhân viên, cỗ đông, và toàn xã hội xem như là công bằng, hợp lẽ phải, hoặc thể hiện sự tôn trọng đối với những quy tắc đạo đức mà họ (các đối tượng hữu quan nêu trên) tôn trọng vả bảo vệ.
Mặc dủ được mô tả như là tầng tiếp theo trong kim tự tháp CSR, trách nhiệm đạo đức có thê ảnh hưởng đến trách nhiệm pháp lý. Nó sẽ thúc đây trách nhiệm pháp lý mở rộng ra hơn nữa, đồng thời đặt kỳ vọng cao hơn vào những doanh nhân trong việc thực hiện những điều cao hơn cả luật pháp quy định. Né bao gom cam két trực tiếp của doanh nghiệp trong hành động hoặc đề ra các chương trình nhằm thúc đây sự thịnh vượng của toàn xã hội. Có thể ví dụ một số hoạt động thuộc trách nhiệm từ thiện của doanh nghiệp, như là: đóng góp của doanh nghiệp về tài chính và nguồn lực cho các hoạt động nghệ thuật, giáo dục hoặc cộng đồng.
TU THIEN DAO DUC PHAP LY KINH TE Hình 2.1: Mô hình “Kim tự tháp” TNXH (Nguồn: Carroll Archie - 1999) Từ năm 2000 đến nay, có nhiều nhận định về CSR. Phần lớn những định nghĩa và các vấn đề liên quan tương tự những vấn đề được đề cập ở các thập niên trước.