Chương 1 cũng đã giới thiệu chi tiết cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và bộ máy kế toán trong công ty. Chương 2 sẽ giới thiệu đặc điểm ngành nghề kinh doanh cung cấp dịch vụ và cơ sở lý luận chung về việc phân tích báo cáo tài chính. SVTH: ĐẶNG THỊ HỒNG – LỚP DH09K1 Trang 16 BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD : TH.S NGUYỄN THỊ ÁNH HOA CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 2. Ý nghĩa, mục đích và phương pháp phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp 2.
Ý nghĩa Công tác tài chính doanh nghiệp có quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh. Tình hình cung ứng nguyên vật liệu không thực hiện tốt, năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm giảm, sản phẩm không tiêu thụ được. sẽ làm cho tình hình tài chính của doanh nghiệp gặp khó khăn. Ngược lại công tác tài chính tốt sẽ thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động.
Chẳng hạn khi có đủ vốn kinh doanh, doanh nghiệp sẽ chủ động và thuận lợi hơn trong việc dự trữ cần thiết cho sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm. Vì thế cần phải thường xuyên kịp thời đánh giá, kiểm tra tình hình tài chính của doanh nghiệp, trong đó công tác phân tích tình hình tài chính giữ vai trò quan trọng. Phân tích tài chính doanh nghiệp cần làm sao cho những con số trên bảng báo cáo biết nói để những ai cần sử dụng chúng đều có thể hiểu rõ tình hình tài chính của doanh nghiệp và hiểu được mục tiêu phương hướng, hành động của nhà quản lý doanh nghiệp đó. Phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa rất quan trọng không những đối với chủ doanh nghiệp mà còn đối với các đối tượng quan tâm khác như các nhà đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng và các cơ quan hữu quan khác.
Mỗi đối tượng quan tâm đến những khía cạnh khác nhau về tình hình tài chính, nhìn chung để phục vụ cho mục đích là biết được khả năng sinh lợi, khả năng thanh toán, hiệu quả sản xuất kinh doanh như thế nào? Trên cơ sở đó, có những giải pháp hữu hiệu thúc đẩy doanh nghiệp phát triển hoặc ra những quyết định đầu tư hợp lý về cho vay hay bán hàng hoá. Phân tích tài chính doanh nghiệp là đánh giá những gì đã làm được, dự kiến những gì sẽ xảy ra, biết được bản chất của tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở đó tìm ra các nguyên nhân sâu xa của các hiện tượng tài chính để đưa ra những biện pháp nhằm tận dụng triệt để điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu. Phân tích tài chính là công cụ không thể thiếu phục vụ cho công tác tài chính của cơ quan cấp trên, cơ quan tài chính, ngân hàng. như : đánh giá tình hình thực hiện chế độ, chính sách của nhà nước, xem xét việc cho vay vốn.
Phân tích tình hình tài chính là giúp những người ra quyết định đánh giá chính xác sức mạnh tài chính, khả năng sinh lãi, hiệu quả họat động kinh doanh. đồng thời đánh giá những triển vọng cũng như những rủi ro trong tương lai của doanh nghiệp để từ đó đưa ra những quyết định thích hợp. Mục đích Phân tích tình hình tài chính nhằm đạt được mục đích chủ yếu sau: Cung cấp kịp thời, đầy đủ và trung thực thông tin kinh tế cần thiết cho chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư và các đối tượng quan tâm khác, từ đó giúp họ có những quyết định đúng đắn trong kinh doanh, trong quan hệ kinh tế. Cung cấp thông tin về tình hình sử dụng vốn, khả năng huy động vốn, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp thấy rõ những tồn tại để có biện pháp hữu hiệu khắc phục và phát huy những thành tích đã đạt được.
SVTH: ĐẶNG THỊ HỒNG – LỚP DH09K1 Trang 17 BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD : TH.S NGUYỄN THỊ ÁNH HOA Cung cấp thông tin về tinh hình công nợ, khả năng tiêu thụ sản phẩm cũng như tình hình ảnh hưởng làm thay đổi những điều kiện sản xuất kinh doanh, giúp cho chủ doanh nghiệp dự đoán chính xác quá trình phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Để đánh giá đúng tình hình tài chính của Doanh nghiêp, chủ Doanh nghiệp cũng như các đối tượng quan tâm khác sử dụng các số liệu trên bảng cân đối kế tóan, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính. Ngoài ra còn phải sử dụng hàng loạt tài liệu thực tế khác như : Môi trường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, loại hình kinh doanh và các chính sách hiện hành. Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp được nhiều nhóm người khác nhau quan tâm như : nhà quản lý, chủ sở hữu, người cho vay… mỗi nhóm người này phân tích có xu hướng tập trung vào các khía cạnh khác nhau của bức tranh tài chính của doanh nghiệp.
Đối với nhà quản lý: Mối quan tâm của họ là điều hành quá trình sản xuất kinh doanh sao cho có hiệu quả, tìm được lợi nhuận tối đa và khả năng trả nợ. Dựa trên cơ sở phân tích, nhà quản lý có thể định hướng hoạt động, lập kế hoạch kiểm tình hình thực hiện và điều chỉnh quá trình hoạt động sao cho có lợi nhất. Đối với chủ sở hữu: Họ cũng quan tâm đến lợi nhuận và khả năng trả nợ, sự an toàn của tiền vốn bỏ ra, thông qua phân tích sẽ giúp họ đánh giá hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh, khả năng điều hành của nhà quản trị để quyết định sử dụng bãi miễn nhà quản trị cũng như việc phân phối kết quả kinh doanh. Đối với chủ nợ: Ngân hàng, các nhà cho vay, nhà cung cấp, mối quan tâm của họ hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Do đó họ cần chú ý tình hình và khả năng thanh tóan của đơn vị cũng như quan tâm đến lượng vốn của chủ sở hữu, khả năng sinh lời để đánh giá đơn vị có khả năng trả nợ đựơc hay không trước khi quyết định việc cho vay, bán chịu sản phẩm cho đơn vị. Đối với nhà đầu tư tương lai: Điều họ quan tâm là sự an toàn của lượng vốn đầu tư, kế đó là mức độ sinh lời, thời gian hoàn vốn. Vì vậy họ cần những thông tin về tài chính, tình hình hoạt động kết quả kinh doanh, tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Do đó họ thường phân tích qua các thời kỳ để quyết định đầu tư vào lĩnh vực nào.
Đối với cơ quan chức năng (cơ quan thuế): Thông qua thông tin trên báo cáo tài chính xác định các khoản nghĩa vụ đơn vị phải thực hiện với nhà nước, cơ quan thống kê, chỉ số thống kê. Phương pháp phân tích báo cáo tài chính Trong phân tích tài chính có nhiều phương pháp phân tích khác nhau được sử dụng như: Phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp liên hệ cân đối, phương pháp loại trừ, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp phân tích hệ số. Trong đó, phương pháp được sử dụng phổ biến là phương pháp so sánh, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp phân tích hệ số. Phương pháp so sánh SVTH: ĐẶNG THỊ HỒNG – LỚP DH09K1 Trang 18 BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP GVHD : TH.S NGUYỄN THỊ ÁNH HOA Là phương pháp chủ yếu được dùng phân tích báo cáo tài chính, khi so sánh đòi hỏi các chỉ tiêu phải có cùng điều kiện có tính so sánh được và tiêu chuẩn so sánh để xem xét đánh giá rút ra kết luận về hiện tượng của quá trình kinh tế.
Điều kiện so sánh Các chỉ tiêu kinh tế phải được hình thành trong cùng một khoảng thời gian như nhau. Các chỉ tiêu kinh tế phải thống nhất về phương pháp tính toán. Các chỉ tiêu kinh tế phải cùng một đơn vị đo lường. Ngoài ra khi so sánh chỉ tiêu ứng dụng phải quy đổi về cùng một quy mô hoạt động với các điều kiện kinh doanh tương tự như nhau.
Tiêu chuẩn so sánh Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu được chọn làm căn cứ so sánh (kỳ gốc). Tuỳ theo mục đích, yêu cầu mà chọn các kỳ gốc thích hợp. Khi nghiên cứu xu hướng của sự thay đổi, kỳ gốc được chọn làm số liệu của kỳ trước. Thông qua sự so sánh kỳ này sẽ thấy được tình hình tài chính được cải thiện tốt hơn hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục.
Khi nghiên cứu biến động so với tiêu chuẩn đặt ra, kỳ gốc được chọn làm kế hoạch dự toán. Thông qua so sánh này thấy được mức độ phấn đấu của doanh nghiệp như thế nào. Khi nghiên cứu mức độ tiên tiến hay lạc hậu, kỳ gốc được chọn là mức độ trung bình của ngành. Thông qua sự so sánh này ta đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp so với các đơn vị khác trong ngành.
Phân tích tình hình tài chính của đơn vị được nhiều nhóm người khác nhau quan tâm và phân tích trên nhiều khía cạnh khác nhau nhưng thường liên quan với nhau. Do vậy các nhóm này thường sử dụng các phương pháp và kỹ thuật cơ bản để phân tích báo cáo tài chính một cách có hiệu quả. So sánh bằng số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu. Phân tích so sánh tuyệt đối cho thấy độ lớn của các chỉ tiêu.
Hạn chế của so sánh tuyệt đối là không thấy rõ được mối liên hệ của các chỉ tiêu. So sánh bằng số tương đối: là kết quả của phép chia của số chênh lệch tuyệt đối so với kỳ gốc của các chỉ tiêu. Phân tích so sánh số tương đối cho thấy sự thay đổi về độ lớn của từng chỉ tiêu, khoản mục và đồng thời cho phép liên kết các chỉ tiêu, khoản mục đó lại với nhau để nhận định tổng quát diễn biến về hoạt động tài chính, sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên nó che lấp mặt lượng của các chỉ tiêu So sánh số bình quân : Số bình quân là biểu hiện mức độ chung nhất về mặt lượng của các đơn vị bằng cách san bằng mọi chênh lệch trị số giữa các đơn vị đó, nhằm phản ánh khái quát đặc điểm điển hình của một bộ phận hay một tổng thể các hiện tượng có cùng tính chất.
Quá trình phân tích theo phương pháp so sánh có thể thực hiện theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc.