Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính Chương 3: Thực trạng phân tích báo cáo tài chính của Tổng Công ty CP Dệt May Hà Nội. Chương 4: Thảo luận kết quả, các giải pháp và kết luận 3 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 2.Lý thuyết về khái niệm và mục tiêu trong phân tích báo cáo tài chính 2. Khái niệm về phân tích báo cáo tài chính Trước khi đi sâu vào việc phân tích báo cáo tài chính, ta cần hiểu được khái niệm báo cáo tài chính là gì. Theo Luật kế toán số 88/2015/QH13: “Báo cáo tài chính là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán được trình bày theo biểu mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.
Báo cáo tài chính của đơn vị kế toán dùng để tổng hợp và thuyết minh về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị kế toán”. Bên cạnh các đối tượng khác ngoài doanh nghiệp như các nhà đầu tư, các cơ quan nhà nước, các nhà cung cấp tín dụng, … thì các nhà quản trị doanh nghiệp cũng dùng những chỉ tiêu được cung cấp từ BCTC để có thể xác định, phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó. Theo Nguyễn Năng Phúc (2011):“Phân tích BCTC là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua. Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp.” Theo quan điểm tác giả Nguyễn Văn Công (2019):“Phân tích BCTC là quá trình sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích thích hợp để tiến hành xem xét, đánh giá dữ liệu phản ánh trên các BCTC cùng các mối quan hệ tương quan giữa các chỉ tiêu trên BCTC và các dữ liệu liên quan khác nhằm cung cấp thông tin hữu ích, đáp ứng yêu cầu thông tin từ nhiều phía của người sử dụng”.
Các tác giả đều có chung quan điểm là việc phân tích BCTC doanh nghiệp là quá trình thu thập và tổng kết các dữ liệu, sử dụng các phương pháp để xác định chỉ tiêu tài chính qua những con số trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Từ đó trong khoảng thời gian nghiên cứu, giúp nhà quản trị doanh nghiệp nắm được tình hình tài chính và dự đoán được tài chính và những vướng mắc doanh nghiệp có thể phải đối mặt trong tương lai, đề ra các phương pháp kinh doanh phù hợp và đáp ứng được các lợi ích đã đề ra trước đó của công ty. Các chỉ tiêu phân tích báo cáo tài chính giúp các chủ thể bên ngoài doanh nghiệp, nắm được thông tin tài chính, kinh tế để phục vụ cho các mục đích khác nhau. Mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính Các thông tin được cung cấp từ việc phân tích báo cáo tài chính sẽ tùy thuộc các mục đích khác nhau của từng đối tượng sử dụng.
Phân tích báo cáo tài chính đối với nhà quản trị: Nhà quản trị doanh nghiệp là một hoặc một nhóm người quản lý trực tiếp, điều hành doanh nghiệp, cần hiểu và nắm bắt các thông tin cho việc ra quyết sách. Điều này sẽ giúp nhà quản lý: - Đánh giá khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo từng giai đoạn. - Tư vấn, định hướng các quyết định của BGĐ để đảm bảo sự thích hợp với tình trạng hiện tại của doanh nghiệp như việc phân phối lợi nhuận, tài trợ, các quyết định đầu tư sắp tới… - Cơ sở để dự đoán tài chính, xét duyệt các phương án huy động vốn, đồng thời cũng là nền tảng để đưa ra các kế hoạch đầu tư dài hạn, xây dựng thương hiệu, tăng khả năng cạnh tranh với các đối thủ trong ngành và trong nền kinh tế. - Cơ sở để kiểm soát các hoạt động, quản lý ở mọi cấp quản trị.
Phân tích báo cáo tài chính đối với nhà góp vốn Người dùng vốn của bản thân để góp vốn vào doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời, do vậy nhà đầu tư quan tâm việc bảo vệ tài sản họ đầu tư vào doanh nghiệp. Bên cạnh việc quan tâm thời gian hoàn vốn, khả năng sinh lời, mức độ thu hồi vốn họ còn quan tâm đến các quyết định đầu tư vào dự án, mức độ rủi ro của chúng. Các nhà đầu tư cần thường xuyên đánh giá tình hình tài chính của công ty mà họ góp vốn để kịp thời đưa ra các quyết định có tiếp tục hay rút vốn đầu tư. Phân tích báo cáo tài chính đối với ngân hàng và nhà cung cấp tín dụng Nhà cung cấp tín dụng và ngân hàng là các cá nhân, tổ chức cung cấp vốn vay cho doanh nghiệp để phục vụ công việc kinh doanh của họ.
Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán và khả năng sinh lời đóng vai trò quan trọng đối với nhóm đối tượng này trong việc xem xét và đưa ra quyết định cho vay vốn. Việc so sánh tài sản với nợ phải trả theo kỳ hạn sẽ giúp các tổ chức tín dụng xác định được khả năng thanh toán. Ngoài ra đối với ngân hàng, họ còn quan tâm đến VCSH – được coi là nguồn đảm bảo cần thiết khi doanh nghiệp gặp khó khăn hay thậm chí phá sản mà ngân hàng có thể thu hồi được. 5 Phân tích báo cáo tài chính đối với người lao động trong doanh nghiệp Đối với người lao động – người nhận lương từ doanh nghiệp, họ cũng cần để tâm đến việc phân tích BCTC.
Ngoài nguồn thu nhập từ tiền lương, cũng có những người lao động có cổ phần trong vốn trong công ty. Do đó, các kỳ vọng phát triển trong tương lai sẽ được dự đoán dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh. Khi một công ty có tình hình tài chính không lạc quan, nguy cơ đứng trên bờ vực phá sản sẽ khó giữ chân được người lao động cũng như không thể thu hút được các lao động đến làm việc. Phân tích báo cáo tài chính đối với cơ quản quản lý nhà nước Các cơ quan quản lý nhà nước (Cơ quan thuế, Bộ tài chính, Hải quan, …) có nhiệm vụ giám sát, kiểm tra các hoạt động đang và đã diễn ra trong doanh nghiệp, việc nắm bắt được tình hình tài chính, tình trạng sản xuất kinh doanh của công ty đó sẽ giúp các cơ quan này xây dựng kế hoạch quản lý nhằm thực hiện các công tác do Nhà nước giao phó một cách hiệu quả.
Phân tích báo cáo tài chính đối với các bên có liên quan Ngoài các đối tượng trên thì các đối thủ trong ngành cũng lưu tâm đến doanh thu bán hàng, các chi phí phát sinh và khả năng sinh lợi để tìm ra các phương án cạnh tranh. Ngoài ra các nhà nghiên cứu, sinh viên cũng sử dụng các chỉ tiêu từ phân tích BCTC nhằm phục vụ cho các bài tập và các bài nghiên cứu của mình. Nội dung phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 2. Phân tích khái quát tình hình tài chính và cấu trúc tài chính của doanh nghiệp Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm cho thấy được những thành công mà doanh nghiệp đạt được khả quan hay bi đát thể hiện qua những hoạt động công ty thực hiện trong khoảng thời gian đó.
Quan điểm của Nguyễn Văn Công (2019) “Dựa vào tình hình tài chính của doanh nghiệp, các nhà quản lý biết được tình trạng tài chính hay trạng thái tài chính vụ thể cũng như xu thế phát triển của doanh nghiệp cả về an ninh tài chính, về mức độ độc lập tài chính, về chính sách huy động và sử dụng vốn, về tình hình và khả năng thanh toán. Khi đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp cần được đánh giá chính xác và toàn diện. Chỉ khi đánh giá chính xác thì những người sử dụng thông tin mới có thể đánh giá khái quát và đưa ra quyết sách sáng suốt, phù hợp và hiệu quả với hiện trạng của công ty. Ngoài ra còn cần đánh giá còn cần phải toàn diện trên các mặt, khái quát được tình hình tài chính.
Điều 6 này hỗ trợ nhà quản trị có các kế sách phù hợp giúp tăng cường năng lực tài chính, năng lực kinh doanh của chính công ty mình. Phương pháp phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp được sử dụng là phương pháp so sánh, so sánh các chỉ tiêu của kỳ gốc cả về số tương đối và số tuyệt đối với kỳ phân tích. Nhóm chỉ tiêu dùng để đánh giá trên các khía cạnh trọng yếu của hoạt động tài chính, việc tính toán đơn giản, tiện lợi và có thể ước tính được. Các nhà phân tích có thể theo dõi sự biến động và liên kết giữa các chỉ tiêu, nhận xét được về hiện trạng cũng như khả năng tài chính, an ninh tài chính của doanh nghiệp.
Tổng số vốn của DN được cấu thành bởi 2 bộ phận chính: NPT và VCSH, theo Nguyễn Văn Công (2019) “Sự thay đổi về tỷ trọng của từng bộ phận vốn chiếm trong tổng số vốn và xu hướng biến động về cơ cấu vốn cho thấy chính sách huy động vốn của doanh nghiệp”. Các nhà nghiên cứu sẽ xem xét và nhận xét về kết quả và quy mô huy động vốn cũng như tốc độ tăng trưởng vốn của doanh nghiệp. Việc đánh giá tình hình biến động vốn được khái quát theo bảng dưới đây: Bảng 2. Đánh giá khái quát tình hình biến động vốn của DN về quy mô và tốc độ Chỉ tiêu Cuối năm Đầu năm Số cuối năm/đầu năm Số tiền Tỷ Số Tỷ Số Tỷ lệ Tỷ trọng tiền trọng tiền (%) trọng (%) (%) (%) A 1 2 3 4 5 6 7 1.
Nợ phải trả Tổng nguồn vốn 100 100 - Nguồn: Nguyễn Văn Công (2019) Tác giả dùng nhóm chỉ tiêu đánh giá khái quát mức độ độc lập tài chính giúp có góc nhìn tổng quát được tình hình của doanh nghiệp. Theo Nguyễn Văn Công (2019) “Mức độ độc lập tài chính của DN thể hiện qua mức độ tự chủ tài chính và mức độ bảo đảm an ninh tài chính.” Mức tự chủ tài chính cho thấy doanh nghiệp không phụ thuộc hay bị tác động bởi các nhân tố bên ngoài trong quá trình quản lý, vận hành doanh nghiệp khi đưa ra và thực thi các quyết định tài chính. Còn an ninh tài chính cho thấy mức an toàn và ổn định về mặt tài chính.