Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu - Chương 2: Lý luận chung về phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp - Chương 3: Phân tích báo cáo tài chính của Công ty Cổ phần thực phẩm Hữu Nghị - Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu; các giải pháp và kết luận 7 CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 2. Khái quát về báo cáo tài chính và hệ thống báo cáo tài chính 2. Khái niệm phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ và khả năng sinh lời trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin kinh tế – tài chính chủ yếu cho người sử dụng thông tin kế toán trong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong hệ thống báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một tư liệu cốt yếu trong hệ thống thông tin về các doanh nghiệp. BCTC bao gồm các báo cáo thành phần như: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và thuyết minh BCTC. Báo cáo tài chính là phương tiện mà những người quan tâm sử dụng để đánh giá khả năng sinh lợi và thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Thông qua BCTC, những người sử dụng thông tin có thể đưa ra đánh giá, phân tích về thực trạng, năng lực tài chính của doanh nghiệp.
Cũng như đánh giá và nắm bắt được hiệu quả hoạt động kinh doanh (HĐKD), khả năng thanh toán, giá trị doanh nghiệp.Từ đó đưa ra những các quyết định của các nhà quản trị tài chính, các nhà đầu tư. BCTC hiện nay mang tính bắt buộc do nhà nước quy định, với mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cần thiết cho các đối tượng quan tâm ngoài doanh nghiệp. Vậy, “Phân tích Báo cáo tài chính là quá trình sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích thích hợp để tiến hành xem xét, đánh giá dữ liệu phản ánh trên các trên BCTC cùng các mối quan hệ tương quan giữa các chỉ tiêu trên BCTC và các dữ liệu liên quan khác nhằm cung cấp thông tin hữu ích, đáp ứng yêu cầu thông tin từ nhiều phía của người sử dụng”. (Nguyễn Văn Công (2019, tr.
Hệ thống báo cáo tài chính 2. Bảng cân đối kế toán Theo điều 112, thông tư số 200/2014/TT-BTC; bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, theo 2 cách phân loại là kết cấu vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn kinh doanh. Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản, và nguồn hình thành tài sản đó. Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể nhận xét đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán thường có kết cấu hai phần: Phần tài sản: Phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản được chia làm 2 phần: tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn, tài sản cố định và đầu tư dài hạn. Phần nguồn vốn: phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo. Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lí của doanh nghiệp đối với tài sản đang quản lí và sử dụng tại doanh nghiệp.
Nguồn vốn được chia thành: Nợ phải trả và nguồn vốn chủ sỡ hữu. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Theo điều 113, thông tư số 200/2014/TT-BTC; báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và hiệu quả kinh doanh trong một kì kế toán của doanh nghiệp, chi tiết theo hoạt động kinh doanh chính và các hoạt động khác, tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước về thuế và các khoản phải nộp. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm 3 phần: Phần I: Lãi- lỗ: phản ánh tình hình kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác. Tất cả các chỉ tiêu trong phần này đều trình bày số liệu của kì trước, tổng số phát sinh trong kì báo cáo.
9 Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước: phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, thuế, và các khoản phải nộp khác. Tất cả các chỉ tiêu trong phần này đều được trình bày số còn phải nộp kì trước chuyển sang, số còn phải nộp phát sinh trong kì báo cáo, số đã nộp trong kì báo cáo, số còn phải nộp đến cuối kì báo cáo. Phần III: Thuế giá trị gia tăng (GTGT) được khấu trừ, được miễn giảm, được hoàn lại: phản ánh số thuế GTGT được khấu trừ, đã khấu trừ và còn được khầu trừ cuối kì, số thuế GTGT được miễn giảm và còn được miễn giảm cuối kì. Cơ sở số liệu để lập báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là số kế toán trong kì các tài khoản từ loại 5 đến loại 9, tài khoản 333 và báo cáo kết quả kinh doanh kì trước.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Theo điều 114, thông tư số 200/2014/TT-BTC; báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính phản ánh các khoản thu chi tiền trong kì của doanh nghiệp theo các hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính. Dựa vào báo cáo lưu chuyển tiền tệ ta có thể đánh giá được khả năng tạo ra tiền, sự biến động tài sản thuần, khả năng thanh toán, và dự đoán được luồng tiền trong kì tiếp theo của doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần: Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh: phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như thu tiền mặt từ hoạt động mua hàng, các khoản thu bất thường khác, chi tiền mặt trả cho người bán hoặc người cung cấp, chi trả lương, nộp thuế, chi trả lãi tiền vay… Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư: phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Các khoản thu tiền mặt như bán tài sản, bán chứng khoán đầu tư, thu nợ các công ty khác, thu lại về phần đầu tư.
Các khoản chi tiền mặt như mua tài sản, mua chứng khoán đầu tư của doanh nghiệp khác… Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính: Phản ánh toàn bộ dòng tiền thu, chi liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp bao gồm các nghiệp vụ 10 làm tăng giảm vốn kinh doanh của doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp góp vốn, vay vốn dài hạn, ngắn hạn, nhận vốn liên danh, phát hành trái phiếu… Có 2 phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ là phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp. Mỗi báo cáo lập theo phương pháp khác nhau thì tuân theo nguyên tắc cơ sở số liệu và cách lập các chỉ tiêu khác nhau. Thuyết minh báo cáo tài chính Theo điều 115, thông tư số 200/2014/TT-BTC; thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp, được lập để giải thích bổ sung thông tin về tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong kì báo cáo mà các báo cáo tài chính không thể trình bày rõ ràng và chi tiết. Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát địa điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp lựa chọn để áp dụng, tình hình và lý do biến động của một số đối tượng sản xuất và nguồn vốn quan trọng, phân tích một số chỉ tiêu tài sản chủ yếu và các kiến nghị của doanh nghiệp.
Cơ sở số liệu lập thuyết minh báo cáo tài chính là các số kế toán kì báo cáo, bảng cân đối kế toán kì báo cáo, thuyết minh báo cáo tài chính kì trước, năm trước. Các phương pháp phân tích báo cáo tài chính 2. Phương pháp so sánh Nếu có sự thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán của các chỉ tiêu tài chính và theo mục đích phân tích thì mới xác định gốc so sánh. Đây cũng chính là điều kiện để áp dụng phương pháp so sánh.
Thông qua phương pháp này, tác giả so sánh tình hình biến động các chỉ tiêu tài chính nhằm đánh giá hiệu quả của từng hạng mục trong phân tích, cụ thể: Nội dung so sánh bao gồm: - So sánh giữa các số hiện thực kỳ này với số hiện thực kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp. Đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh được xu hướng và nhịp điệu tăng trưởng của các chỉ tiêu nghiên cứu. Các chỉ tiêu để đánh giá gồm bảng cân đối tài sản, nguồn vốn, hiệu quả kinh doanh. 11 - So sánh giữa số liệu doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác trong ngành để đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp tốt hay xấu.
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể. - So sánh theo chiều ngang với nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả về số tương đối và tuyệt đối của một số chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp. Phương pháp loại trừ - Sử dụng để xác định mức ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phân tích. Nguyên tắc thực hiện: + Xác định mối quan hệ giữa nhân tố với chỉ tiêu phân tích + Sắp xếp thứ tự các nhân tố của chỉ tiêu theo trình tự nhân tố số lượng đến nhân tố chất lượng (từ trái sang phải).
theo qui luật “lượng biến đổi dẫn đến chất biến đổi”. + Xác định ảnh hưởng lần lượt từng nhân tố theo trình tự đã sắp xếp.