Chương 1: Cơ sở lý luận về mức độ công bồ thông tin và các nhân tổ ảnh hưởng đến mức độ công bồ thông tin Chương 2: Thiết kế nghiên cứu các nhân tổ ảnh hưởng đến mức độ công bồ thông tin Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 4: Hàm ý chính sách và kết luận 6. Tổng quan tài liệu Nhiều nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin ở các nước trên thế giới. Các nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết ở các nước đang phát. Mitchell (Mitchell, Jason D, Chia.
Chris WL & Loh, Andrew $ năm 1995 , pI-16) đã thực hiện nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết qua thăm dò ở Úc và các ngành công nghiệp dầu. Kết quả cho thấy kích thước doanh nghiệp và kích thước đòn bẩy có tác động đến công bố thông tin. Cooke, TE 1992, p229-237 cũng đã hoàn thành một nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty ở Nhật bản cũng cho thấy kích thước của các công ty niêm yết và các loại ngành công nghiệp có tác động đáng kể đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết nhiều hơn các công ty trong các ngành công nghiệp khác. Antti và Hannu (Antti, J.
Schadewitz, 1997, p229- 241) cũng đã êm tra các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách công bé thông tin tự nguyện và các công khai bắt buộc thông qua các công ty tài chính và phi tài chính tại sở giao dịch chứng khoán Helsinki của Phân lan từ năm 1985 đến năm 1993. Kết quả cho thấy rằng các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông 4 tin của doanh nghiệp không chỉ là kích thước doanh nghiệp, mà còn là cơ cấu vốn, và sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Tiếp đến sự tăng trưởng kinh tế và phát triển toàn cầu hoá nhiều học giả bắt đầu chú ý đến các công bố tự nguyện của các công ty đa quốc gia. Dién hinh Gray, Meek (Meek, G.
K, Roberts, CB & Gray, SJ, 1995 p555- 572) đã nghiên cứu thực nghiệm ở 116 doanh nghiệp. ở Mỹ, 64 doanh nghiệp ở Anh và 46 lục địa châu Âu các tập đoàn đa quốc gia để thực nghiệm nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến công bố thông tin tự nguyện trong báo cáo hàng năm. Kết quả cho thấy rằng kích thước của công ty, khu vực mà công ty hoạt động, điều kiện niêm yết và lần lượt là các ngành công nghiệp là các nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đến công bố thông tin của doanh nghiệp. Cụ thể các tập đoàn đa quốc gia ở châu Âu công bố thông tin chiến lược hơn các doanh nghiệp ở Anh và Mỹ.
Các tập đoàn đa quốc gia ở Châu Âu và Anh công bố thông tin phi tài chính hơn ở Mỹ, Các doanh nghiệp lớn càng tiết lộ thông tin nhiều hơn. Choi va Levich (Choi, Frederick DS & Richard M Levich, 1990) nghĩ rằng công bố thông tin của các doanh nghiệp đa quốc gia nhằm mục đích đối phó với những thay đổi các nguyên tắc kế toán quốc tế, ít ai đề cập vấn đề này ở các nước châu Á. Đến khi nghiên cứu của Gerald và Sidney (Gerald K. Gray, 2002, p247 -265) sử dụng bảng công bố thông tin được xây dựng bởi các cộng sự của mình đã thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm về công bố.
thông tin tự nguyện của 62 doanh nghiệp được chọn ở Hồng Kông và Singapore. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ cô phần của các cổ đông bên ngoài tỷ lệ thuận với mức độ công bố thông tin tự nguyện của doanh nghiệp. Một nghiên cứu của Hassan et al (2006) cũng đã cho kết quả là có mối quan hệ mật thiết giữa công bố thông tin và đòn bẩy. Các nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp trên thế giới, đó là nền tảng, cơ sở lý luận đề vận dụng và thực tiễn nghiên cứu ở Việt nam.
Tác giả Đoàn Nguyễn Trang Phương đã có nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam'(2010, p210 -216). Kết quả nghiên cứu hai nhân tố chủ thể iểm toán và khả năng sinh lời có ảnh hưởng đến mức độ công bồ thông tin của các doanh nghiệp niêm yết. Tiếp đến nghiên cứu của tác giả Lê Thị Trúc Loan (2012, P 119- 126) kết quả nhân tố tỷ suất lợi nhuận được đo bằng lợi nhuận sau thuế trên tổng vốn chủ sở hữu tại thời điểm 31/12/210)_có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tỉn của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bên cạnh những nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin, có một số tác giả Lê Trường Vinh, Hoàng Trọng cũng đã nghiên cứu *Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư”.
Kết quả của nghiên cứu đã cho rằng sự nhân tố Q có ảnh hưởng đến sự minh bạch trong công bố thông tin. Kế thừa và phát triển các nghiên cứu trước, luận văn tiếp tục xem xét các nhân tố ảnh hưởng mức độ công bó thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK Hà Nội thông qua sử dụng các mô hình, kết quả các nhân tố của các tác giả đã nghiên cứu trước đây như: Quy mô doanh nghiệp, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời, chủ thể kiểm toán cũng như thời gian hoạt động của doanh nghiệp. những nhân tố nào có mối quan hệ và ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết. à hội nhập trường Đại hoc kinh té , Dai hoc Da Ning"trang 210-216 0a một số nhân tổ thuộc về đặc điểm doanh nghiệp và mức độ công bé thong tin của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Ths Lê Thị Trúc Loan, trang 119-128 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN VE MUC BO CONG BO THONG TIN VA CAC NHAN TO ANH HUONG DEN MUC BDO CONG BO THONG TIN 1. KHÁI NIỆM CHUNG VE CONG BO THONG TIN Công bố thông tin được sử dụng để phát hành tất cả các thông tin liên quan đến giao dịch, đảm bảo kinh doanh. Mục tiêu của tiết lộ đầy đủ là để đảm bảo tính mình bạch, để các NĐT khi tham gia vào thị trường chứng khoán, vì vậy khi tiết lộ những thông tốt và bao gồm cả thông tin xấu. Gibbins Richardon và 'Waterhouse (1990, 122) tiết lộ là một quy định công khai, phát hành có chủ ý các thông tin tài chính và phi tài chính cho dù số lượng hay chất lượng theo yêu cầu hoặc tự nguyện, thông qua các kênh chính thức hoặc không chính thức.
Theo quan điểm của Bộ Tài Chính, được thể hi trong Số tay công bố thông tin dành cho các công ty niêm yết, công bố thông tin được là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm. bảo các cỗ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin. Chúng ta thừa nhận minh bạch thông tin “là sự công bồ thông tin kịp thời và đáng tin cho phép những ngư: dụng thông tin đó có thể đánh giá chính xác về tình hình và hiệu quả của một ngân hàng, hoạt động kinh doanh và rủi ro liên quan đến các hoạt động này”(Theo International Finance Coporation, Public disclosure and transparency, Yerevan, May 2006). Cu thé hon, công bố thông tin ké todn (Accounting Disclosures) 1a toan bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các báo cáo tài chính của một công ty trong thời kỳ nhất định (bao gồm cả các báo cáo giữa niên độ và báo cáo thường niên)” ` Thực rạng và giải pháp của vẫn đề công bổ thông tin của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam, Đăng Thị Thúy Hằng.
Công bồ thông tin bao gồm hai loại là các công bố bắt buộc và các công. bố tự nguyện hay không bắt buộc. Công bố bắt buộc (Madatory disclosure) là những công bố kế toán được yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thỏ. Những công bố này phải được tình bày theo những qui định của Luật Kinh Doanh, Uỷ ban chứng khoán, Các cơ quan quản lý về kế toán, GAAP và sự lựa chọn của doanh nghiệp, không bắt buộc.
C6 nghĩa là một công ty có thể hoặc không cần phải công bố các thông tin kế toán mà luật pháp không yêu cầu. (2008), công bố tự nguyện chỉ như là các thông tin được cung cấp thêm nhằm thoả mãn nhu cầu của người sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp như các nhà phân tích tài chính, các công ty tư vấn, các nhà đầu tư là các tổ chức. Theo xu hướng hiện nay thì các công bố tự nguyện đang thu hút mối quan tâm lớn của người sử dụng thông tin vì tính ảnh hưởng của nó, và các công ty cũng ngày càng được khuyến cáo là sẽ thu được nhiễu lợi ích hơn khi công bố các thông tin dạng này. Công bồ thông tin là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc công.
bố hiệu quả các nguồn lực của xã hội và giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp (Adian, lon-2008). Chính vì thế mà mọi nền kinh tế, tác động của hành vi công bố thông tin, đặc biệt của các doanh nghiệp niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán là vô cùng to lớn. Ảnh hưởng này không chỉ giới hạn ở tầm vi mô trong tình hình tài chính của từng đơn vị, từng nhà đầu tư mà lan rộng trong cả nền kinh tế. Đó là lý do vì sao mà các nghiên cứu về công bố thông tin, tác động và các yếu tố ảnh hưởng không ngừng được thực hiện bởi các nghiên cứu trên khắp thế giới.
Việc nghiên cứu ảnh hưởng của việc công bố thông tin kế toán đến việc ra quyết định vẫn đã và đang là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản trị doanh nghiệp không chỉ ở các nước phát triển mà còn cả các nước đang phát triển Các đi lượng sử dụng thông tỉn, đặc biệt của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán có thể tiếp cận qua nhiều kênh như website của các doanh nghị. báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng,.Nguồn thông tin mà các nhà đầu tư, các cơ quan quản lý.