PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thế kỷ 20 đã qua đánh dấu một chặng đường phát triển vượt bậc của nền kinh tế thế giới, các ứng dụng khoa học công nghệ đang ngày càng sâu rộng tạo ảnh hưởng mạnh mẽ. Giá trị các yếu tố đầu vào truyền thống như nguyên nhiên liệu, đất đai, lao động phổ thông hoặc ít đào tạo ngày càng giảm. Thay vào đó, tri thức, chất xám, thông tin có vai trò ngày càng tăng và mang tính quyết định đối với nhiều khâu từ sản xuất, lưu thông đến phân phối tiêu thụ sản phẩm kinh tế, góp phần đóng góp ngày càng cao trong tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia.
Bước sang thế kỷ 21, một thời kỳ mà các quan hệ quốc tế đã phát triển tới mức không một quốc gia nào, dùng lớn hay nhỏ, dù thuộc hệ thống kinh tế xã hội nào có thể tồn tại và phát triển mà không chịu sự tương tác bởi các quốc gia, nền kinh tế khác. Đây chính là xu thế toàn cầu hóa. Nền kinh tế chuyển dịch cơ cấu phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu. Bên cạnh đó, sự tiến bộ của truyền thông, công nghệ giúp cho tri thức, thông tin trở nên phổ biến rộng rãi hơn, thế giới cũng trở nên phẳng hơn khi mà mọi liên lạc thông tin đều có thể truyền đi nhanh chóng, cách thức và cơ hội tiếp cận thông tin cũng trở nên dễ dàng hơn.
Điều này tác động mạnh mẽ đến nhiều mặt của xã hội và kinh tế, cung cấp thêm phương thức tiếp cận các nguồn lực, khách hàng, đối tác…. Cùng với sự tiến bộ về khoa học, thành tựu về kinh tế thì chúng ta cũng đang phải đối đầu với nhiều vấn đề nan giải nảy sinh từ chính sự tiến bộ của chúng ta. Thông qua các kênh truyền thông, từ báo chí, chính phủ, các nhà nghiên cứu hoặc từ các đơn vị kinh tế. chúng ta cũng nhận được nhiều tin tức không mong đợi như tình trạng tràn dầu, ô nhiễm môi trường sống, thiên tai, dịch bệnh, nạn đói, tổn hại tầng ô zôn, suy thoái kinh tế, doanh nghiệp phá sản, sụp đổ thị trường chứng khoán, gian lận thương mại, chuyển giá, cạnh tranh không lành mạnh, bóc lột lao động, sử dụng lao động trẻ em.
theo đó, xã hội cũng phải tiêu tốn nhiều của cải vật chất và nhân lực hơn cho việc khắc phục hoặc hạn chế hoặc thậm chí chỉ là là ứng phó với các vấn đề tiêu cực nêu trên. 123doc 2 Trong khi nền kinh tế đang tạo ra của cải vật chất cho xã hội thì cũng chính nền kinh tế đang tạo ra nhiều hệ lụy cho xã hội, chúng ta cần có sự kết nối của các tín hiệu tích cực và tiêu cực này để có thể đánh giá đúng mức các hiệu quả hoạt động, giúp cho sự phát triển là bền vững, làm cơ sở cho các quyết định đúng. Đó là sự thể hiện rõ ràng các kết quả hoạt động của một thời kỳ, những khoản lợi nhuận, thu nhập thu được đồng thời với các khoản chi phí lao động, đào tạo, quỹ hưu trí, phúc lợi. và hơn thế nữa là các đánh giá tác động đến môi trường (đóng góp hay gây hại) các hoạt động cộng đồng.
Và lĩnh vực kế toán trách nhiệm xã hội (Social Responsibility Accounting - SRA) sẽ là một trong những công cụ hữu hiệu giúp chúng ta ghi nhận, phản ánh và minh bạch hóa hiệu quả hoạt động của một chủ thể kinh tế. Việc áp dụng kế toán trách nhiệm xã hội giúp doanh nghiệp giải quyết được nhiều vấn đề then chốt cho việc phát triển bền vững trong đó có thể kể đến là (1) giúp doanh nghiệp quản trị tốt được các vấn đề nội bộ: Bản thân người chủ doanh nghiệp, các nhà điều hành luôn cần thông tin dự báo về các rủi ro và trách nhiệm có thể phát sinh về mặt xã hội và gây thiệt hại cho doanh nghiệp; (2) giúp công tác quản lý nhà nước được thuận lợi hơn: Các cơ quan chức năng cần thông tin để kiểm soát các hoạt động kinh tế - xã hội và đưa ra các chính sách điều hành ở tầm vĩ mô một cách phù hợp và hiệu quả. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về SRA, các chương trình giảng dạy tại các trường đại học lớn trên thế giới như University of St Andrews, University of Glasgow. cũng đưa môn SRA vào giảng dạy với mục đích phổ biến và triển khai ứng dụng trong thực tiễn hoạt động của các DN.
Các quốc gia phát triển cũng có một số các quy định hướng dẫn về SRA để các doanh nghiệp áp dụng như System of Environmental and Economic Account 2003 (SEEA 2003), hướng dẫn kế toán phát triển bền vững của dự án Sigma 2003, GRI (Global reporting Initivative)… Trong thực tế, nhiều đơn vị kinh tế lớn cũng đã áp dụng SRA trong hoạt động của mình như American Express, AT&T, Boeing, Coca-cola. Tuy nhiên tại Việt Nam, còn rất ít các công trình nghiên cứu về SRA và trong hệ thống kế toán doanh nghiệp còn những khoảng trống rất lớn thông tin về 123doc 3 CSR (Huỳnh Đức Lộng, 2016) do đó việc vận dụng và phát triển SRA tại các doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang rất hạn chế nếu không muốn nói là chưa được quan tâm đúng mức. Luận văn này nhằm tìm hiểu các thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu SRA đồng thời nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc thực hiện SRA trong DN tại Việt Nam cũng như đưa ra các gợi ý nghiên cứu trong tương lai nhằm cung cấp thêm thông tin góp phần phổ biến SRA trong thực tiễn DN tại Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu + Mục tiêu chung: Tìm hiểu chung về SRA làm cơ sở hướng đến việc thực hành SRA tại Việt Nam.
+ Mục tiêu cụ thể: - Nhận diện những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc thực hiện SRA trong DN tại Việt Nam. - Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến việc thực hiện SRA từ đó đưa ra các bàn luận góp phần thúc đẩy việc thực hiện SRA tại Việt Nam. Câu hỏi nghiên cứu Q1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc thực hiện SRA trong DN Q2: Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến việc thực hiện SRA trong DN tại Việt Nam 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3.
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện SRA trong DN tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu Về không gian: Các tổ chức kể cả doanh nghiệp và ngoài doanh nghiệp tại Việt Nam. Về thời gian: Khoảng thời gian thực hiện khảo sát số liệu là tháng 09/2017. Phương pháp nghiên cứu Tác giả kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng như sau: - Phương pháp nghiên cứu định tính: Thông qua phân tích, tổng hợp thông tin từ các bài nghiên cứu khoa học đã được công bố trong và ngoài nước kết hợp thảo luận nhóm để lấy thêm ý kiến làm cơ sở thiết lập mô hình nghiên cứu và bảng câu hỏi khảo sát chính thức.
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Sử dụng bảng câu hỏi khảo sát gởi đến những người hành nghề kế toán, kiểm toán, tài chính để thu thập ý kiến sau đó thông qua công cụ phần mềm SPSS 20 để kiểm định kết quả khảo sát để đi đến kết luận cho đề tài. Ý nghĩa của luận văn Đây là một lĩnh vực tuy đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới, tuy nhiên lại chưa được khai thác nhiều tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của luận văn mang những ý nghĩa khoa học cơ bản như sau: - Thông qua việc nhận định và đánh giá các nhân tố tác động đến việc thực hiện SRA trong DN tại Việt Nam, tác giả rút ra được những nhận xét và bàn luận nhằm gợi ý cho việc thúc đẩy quá trình thực hiện SRA cho mục tiêu phát triển bền vững của DN Việt Nam. - Kết quả nghiên cứu này cũng góp phần làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu khoa học liên quan trong giai đoạn tiếp theo.
Kết cấu của đề tài Đề tài được thực hiện với 5 chương cụ thể như sau: Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan: trình bày tóm tắt nội dung chính các công trình nghiên cứu có liên quan, trong và ngoài nước. Mối quan hệ giữa các công trình này và đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Trình bày khái niệm CSR, SRA, cơ sở, vai trò và quá trình phát triển của SRA, một số lý thuyết giải thích cho việc vận dụng SRA. 123doc 5 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: giới thiệu quy trình, các bước tiến hành nghiên cứu; thiết kế nghiên cứu (như cơ sở thiết kế mẫu, thiết kế bảng câu hỏi), nghiên cứu sơ bộ, nghiên cứu chính thức.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận: trình bày thông tin mẫu nghiên cứu, xử lý mẫu; kiểm định chất lượng thang đo Cronbach’s Alpha; Kết quả phân tích các nhân tố; thảo luận kết quả. Chương 5: Kết luận và gợi ý: o Kết luận. o Gợi ý: Bàn luận những vấn đề rút ra được từ kết quả nghiên cứu. o Hạn chế của luận văn o Đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai 123doc 6 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI 1.1 Giới thiệu Sự tương tác giữa DN và xã hội trong quá trình hoạt động làm nãy sinh nhiều vấn đề, DN có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến các thành phần khác trong xã hội ví dụ như sự phát triển và lớn mạnh của DN cũng đóng góp vào vào sự thịnh vượng của xã hội, tạo ra của cải vật chất, tạo ra việc làm, đóng góp các khoản thuế dùng để phục vụ trở lại cộng đồng là các mặt tích cực.
Bên cạnh đó, là các vấn đề tiêu cực như cạnh tranh không lành mạnh, chỉ quan tâm đến yếu tố lợi nhuận của công ty mà chưa quan tâm đến các đối tượng khác hoặc xa hơn nữa là việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên, thải ra môi trường các nguồn chất thải độc hại gây ảnh hưởng lâu dài và khó nhận biết, sử dụng lao động trẻ em … Ngược lại các đối tượng hữu quan cũng có tác động trở lại DN, ảnh hưởng hoặc thậm chí là gây áp lực lên DN đòi hỏi DN phải có trách nhiệm hơn với hoạt động của mình, với các đối tượng hữu quan và với xã hội.