Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm đa dạng sinh học Thuật ngữ đa dạng sinh học (ĐDSH) được dùng lần đầu tiên vào năm 1988, sau khi Công ước Đa dạng sinh học được ra đời năm 1992 thì thuật ngữ ĐDSH đã được sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu [ 111]. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về đa dạng sinh học.
Công ước ĐDSH (1992) đã định nghĩa: “ĐDSH là sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất, nó bao gồm sự đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và sự đa dạng hệ sinh thái” [103]. Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên đưa ra khái niệm: “ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” [42]. Ở Việt Nam, khái niệm về ĐDSH đã được Luật Đa dạng sinh học (2008) định nghĩa như sau: “ĐDSH là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái tự nhiên” [66]. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, tính đa dạng sinh học được thể hiện ở 3 mức độ sau đây [83].
Đa dạng gen Đa dạng gen (hay đa dạng di truyền) được thể hiện ở mức độ phân tử, đó là trình tự sự sắp xếp của các nuleotit trong phân tử ADN của mỗi loài, thậm chí là của mỗi cá thể trong cùng một loài khác nhau là khác nhau. Tính chất này qui định các đặc trưng về hình thái, sinh thái và tính di truyền của từng loài. Đây là yếu tố tạo nên đa dạng của thế giới sinh vật trên Trái đất mà con người chúng ta đang sinh sống như hiện nay [69]. Đa dạng loài Tính đa dạng loài được thể hiện ở mức độ cá thể, nó được đặc trưng bởi khả năng trao đổi thông tin di truyền (giao phối, thụ phấn) với nhau và cho các thế hệ con cái hữu thụ (có khả năng sinh sản) giữa các loài với nhau.
Đa dạng loài là phạm trù chỉ mức độ phong phú về số lượng loài hoặc số lượng phân loài (loài phụ) trên Trái đất, ở một vùng địa lý, một quốc gia hay một sinh cảnh nhất định. Đa dạng hệ sinh thái Trong tự nhiên tồn tại những quần xã sinh vật bao gồm các loài sinh vật sinh sống trong một không gian nhất định ở một thời điểm nhất định, có mối quan hệ với nhau và với các nhân tố của môi trường tạo thành một thể thống nhất, tương đối ổn định. Những quần xã sinh vật như thế gọi là hệ sinh thái và ở đó vòng tuần hoàn vật chất, dòng năng lượng và dòng thông tin được thực hiện. Ða dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở cạn cũng như ở nước tại một vùng nào đó [87].
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [83], nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều công nhận trên thế giới có nhiều hệ sinh thái khác nhau, gồm: (1) Rừng mưa nhiệt đới; (2) Rừng mưa á nhiệt đới - ôn đới; (3) Rừng lá kim ôn đới ; (4) Rừng khô nhiệt đới ; (5) Rừng lá rộng ôn đới ; (6) Thảm thực vật Địa Trung Hải ; (7) Sa mạc và bán sa mạc ẩm ; (8) Đồng rêu và sa mạc; (9) Sa mạc, bán sa mạc lạnh ; (10) Trảng cỏ và đồng cỏ nhiệt đới; (11) Đồng cỏ ôn đới; (12) Thảm thực vật vùng núi; (13) Thảm thực vật vùng đảo; (14) Thảm thực vật ao hồ. Khái niệm phát triển bền vững 1. Khái niệm Trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới” với nội dung: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”, thuật ngữ “Phát triển bền vững” lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1980 [16]. Khái niệm trên được sử dụng một cách chính thức trên quy mô quốc tế, trong báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) ghi rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.
Hay nói cách khác, phát triển bền vững là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người [80]. Qua các khái niệm trên ta thấy nội dung nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu, nước nghèo và giữa các thế hệ chứ không đơn thuần chỉ là các nhân tố sinh thái hay nhân tố xã hội, con người. Nội dung của phát triển bền vững Nội dung cơ bản của phát triển bền vững có thể được đánh giá bằng những tiêu chí nhất định về kinh tế, tình trạng xã hội, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường [34]. Bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá - xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch.
Bền vững về xã hội là phải xây dựng một xã hội có nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội, trong đó giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội. Bền vững về môi trường là các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được phải được sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất. Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên.) và môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, lao động và học tập của con người.), nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại. Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảo đảm, con người được sống trong môi trường trong sạch.
Những tiêu chí nói trên là những điều kiện cần và đủ để đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, nếu thiếu một trong những điều kiện đó thì sự phát triển sẽ đứng trước nguy cơ mất bền vững [34]. Các nguyên tắc của phát triển bền vững Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc trong tác phẩm “Hãy cứu lấy Trái đất - chiến lược cho một cuộc sống bền vững”, năm 1991 đã nêu ra 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững. Tuy nhiên, các nguyên tắc này thực sự khó áp dụng trong thực tế của một thế giới đầy các biến động về chính trị, kinh tế, văn hóa. Thực luan an tế đòi hỏi cần thiết lập một hệ thống nguyên tắc khác có tính khả thi và sát thực tế hơn.
Hệ thống 7 nguyên tắc mới do Luc Hens (1995) xây dựng về phát triển bền vững bao gồm: (1) Nguyên tắc về sự ủy thác của nhân dân; (2) Nguyên tắc phòng ngừa; (3) Nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ; (4) Nguyên tắc bình đẳng trong nội bộ thế hệ; (5) Nguyên tắc phân quyền, ủy quyền; (6) Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền; (7) Nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền (dẫn theo Nguyễn Đình Hòe, 2009 [37]). Khái niệm bảo tồn sinh học 1. Khái niệm Bảo tồn sinh học là một nguyên lý khoa học được xây dựng để bảo vệ các loài, thiết lập các khu bảo tồn mới và củng cố, nâng cấp các Vườn Quốc gia cũng là để xác định những loài nào trên Trái đất được bảo tồn cho tương lai. Bảo tồn sinh học là một khoa học đa ngành, tập hợp được rất nhiều người và nhiều tri thức thuộc các lĩnh vực khác nhau nhằm khắc phục tình trạng khủng hoảng ĐDSH hiện nay [60].
Từ khái niệm trên, có thể thấy rằng bảo tồn sinh học có hai mục tiêu: một là tìm hiểu những tác động tiêu cực do hoạt động của con người gây ra đối với các loài, các quần xã và các HST; hai là xây dựng các phương pháp tiếp cận để hạn chế sự tuyệt diệt của các loài và nếu có thể được, cứu trợ các loài đang bị đe dọa bằng cách đưa chúng hội nhập trở lại các HST đang còn phù hợp với chúng. Bảo tồn với phát triển bền vững ở Việt Nam Bảo tồn với phát triển bền vững (PTBV) ở Việt Nam đã được đặt ra từ vài chục năm gần đây, trong đó đề cập đến các vấn đề cơ bản như sau: - Thể chế, chính sách bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững ở Việt Nam Việt Nam đã hội nhập với thế giới khá sớm trong các lĩnh vực liên quan tới bảo tồn ĐDSH và PTBV. Việt Nam đã tham gia Hội nghị về Môi trường và phát triển năm 1992 và năm 1994 đã ký Công ước ĐDSH. Một hệ thống thể chế, các chính sách và pháp luật về môi trường, bảo tồn ĐDSH và PTBV đã được xây dựng khá đầy đủ ở nước ta.
Cụ thể: Việt Nam đã thành lập Hội đồng PTBV từ năm 2005, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách quan trọng để định hướng cho công tác luan an bảo vệ môi trường, bảo tồn ĐDSH, gắn với phát triển kinh tế-xã hội và nhiều văn bản luật, văn bản dưới luật để triển khai thực hiện trên thực tế. Nhiều chiến lược có liên quan đã được xây dựng, bao gồm: Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Chiến lược Phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020; Chiến lược Quản lý hệ thống khu BTTN Việt Nam đến năm 2010; Kế hoạch hành động Quốc gia về bảo vệ ĐDSH của Việt Nam (2007). Một hệ thống luật pháp liên quan đến lĩnh vực bảo tồn và phát triển đã được Chính phủ xây dựng và ban hành, trong đó quan trọng nhất là Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi năm 2005), Luật Tài nguyên nước (2012), Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi năm 2004) và Luật Biển Việt Nam (2012).