Luận án tiến sĩ về đa dạng thực vật và giải pháp bảo tồn tại khu di tích Tân Trào, Tuyên Quang

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu tính đa dạng thực vật tại khu di tích lịch sử tân trào tỉnh tuyên quang đề xuất giải, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Sinh thái học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

205
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số khái niệm liên quan

1.2. Khái niệm đa dạng sinh học

1.3. Khái niệm phát triển bền vững

1.4. Khái niệm bảo tồn sinh học

1.5. Khái niệm thảm thực vật

1.6. Nghiên cứu về tính đa dạng thực vật

1.7. Nghiên cứu về thảm thực vật

1.8. Nghiên cứu về hệ thực vật

1.9. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật

1.10. Các yếu tố làm suy giảm tính đa dạng thực vật

1.11. Các yếu tố làm tăng tính đa dạng thực vật

1.12. Nghiên cứu thảm thực vật, hệ thực vật ở tỉnh Tuyên Quang

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Thời gian nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.5. Phương pháp kế thừa

2.6. Phương pháp nghiên cứu thực vật

2.7. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

2.8. Phương pháp điều tra phỏng vấn

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.2. Vị trí địa lý và ranh giới

3.3. Khí hậu, thủy văn

3.4. Địa chất, thổ nhưỡng

3.5. Tài nguyên thiên nhiên

3.6. Đặc điểm kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu

3.7. Dân số, dân tộc

3.8. Đặc điểm kinh tế và xã hội

3.9. Thực trạng xã hội và cơ sở hạ tầng

3.10. Đánh giá điều kiện thuận lợi và khó khăn về đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của Khu di tích lịch sử Tân Trào trong việc bảo tồn, phát triển thảm thực vật

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đa dạng thảm thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào

4.2. Thảm thực vật tự nhiên

4.3. Thảm thực vật cây trồng

4.4. Đa dạng hệ thực vật bậc cao có mạch tại Khu di tích lịch sử Tân Trào

4.5. Đa dạng các taxon của hệ thực vật

4.6. Đa dạng thành phần dạng sống thực vật

4.7. Đa dạng giá trị sử dụng của hệ thực vật

4.8. Đa dạng yếu tố địa lý thực vật

4.9. Đa dạng giá trị bảo tồn của thực vật

4.10. Đánh giá vai trò của thảm thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào

4.11. Vai trò bảo tồn tính đa dạng khu hệ động vật

4.12. Vai trò bảo vệ môi trường và nguồn nước

4.13. Vai trò của thảm thực vật tự nhiên trong việc tạo cảnh quan và bảo vệ các di tích lịch sử

4.14. Vai trò của thảm thực vật rừng đối với sinh kế của người dân

4.15. Vai trò của thảm thực vật rừng đối với phát triển du lịch sinh thái

4.16. Các yếu tố ảnh đến tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào

4.17. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành thảm thực vật

4.18. Ảnh hưởng của con người đến tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào

4.19. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào

4.20. Cơ sở thực tiễn

4.21. Các giải pháp chủ yếu để bảo tồn tính đa dạng thực vật

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về đa dạng sinh học tại Tân Trào

Khu di tích lịch sử Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang, là một trong những khu vực có đa dạng sinh học phong phú. Nghiên cứu về đa dạng thực vật tại đây không chỉ giúp hiểu rõ hơn về hệ sinh thái mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn thực vật và phát triển bền vững. Theo thống kê, khu vực này có khoảng 726 loài thực vật, thuộc 137 họ và 462 chi, cho thấy sự phong phú của hệ thực vật. Việc nghiên cứu đánh giá đa dạng sinh học tại Tân Trào là cần thiết để xây dựng các chiến lược bảo tồn và phát triển bền vững, nhằm bảo vệ môi trường và sinh kế của người dân địa phương.

1.1. Tầm quan trọng của đa dạng sinh học

Đa dạng sinh học không chỉ là nguồn tài nguyên quý giá mà còn là yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững của một khu vực. Tại Tân Trào, thực vật bản địa đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ sinh thái và bảo vệ môi trường. Các loài thực vật không chỉ cung cấp thực phẩm, thuốc chữa bệnh mà còn góp phần vào việc bảo vệ nguồn nước và cải thiện chất lượng không khí. Việc bảo tồn đa dạng sinh học tại đây sẽ giúp duy trì sự cân bằng sinh thái, đồng thời tạo điều kiện cho phát triển du lịch sinh thái, một nguồn thu nhập quan trọng cho người dân địa phương.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng thực vật

Nghiên cứu cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào. Các yếu tố tự nhiên như khí hậu, địa hình, và thổ nhưỡng có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển thảm thực vật. Bên cạnh đó, các yếu tố nhân sinh như hoạt động khai thác gỗ, nông nghiệp và du lịch cũng tác động mạnh mẽ đến đánh giá đa dạng sinh học. Việc khai thác gỗ trái phép và phá rừng để mở rộng đất canh tác đã dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng về đa dạng sinh học. Do đó, cần có các biện pháp quản lý và bảo vệ hợp lý để duy trì đặc điểm sinh thái của khu vực.

2.1. Tác động của con người

Hoạt động của con người, đặc biệt là việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, đã gây ra nhiều áp lực lên hệ sinh thái tại Tân Trào. Việc quản lý tài nguyên thiên nhiên chưa hiệu quả đã dẫn đến tình trạng suy giảm đa dạng thực vật. Các hoạt động như săn bắt động vật, khai thác dược liệu và phá rừng để làm nương rẫy đã làm giảm đáng kể số lượng và sự phong phú của các loài thực vật. Để bảo tồn thực vật bản địa, cần có các chiến lược bảo tồn hiệu quả, kết hợp với việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của đa dạng sinh học.

III. Giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững

Để bảo tồn đa dạng thực vật tại Khu di tích lịch sử Tân Trào, cần triển khai các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Một trong những giải pháp quan trọng là xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên, nơi có thể bảo vệ các loài thực vật quý hiếm và duy trì hệ sinh thái tự nhiên. Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch sinh thái cũng cần được chú trọng, nhằm tạo ra nguồn thu nhập cho người dân địa phương và khuyến khích họ tham gia vào công tác bảo tồn. Các chương trình giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trườngquản lý tài nguyên thiên nhiên cũng cần được triển khai để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân.

3.1. Xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên

Việc xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên tại Tân Trào sẽ giúp bảo vệ thực vật bản địa và duy trì đa dạng sinh học. Khu bảo tồn không chỉ là nơi bảo vệ các loài thực vật mà còn là không gian cho nghiên cứu khoa học và giáo dục môi trường. Các hoạt động như trồng rừng, phục hồi hệ sinh thái và bảo vệ các loài thực vật quý hiếm cần được thực hiện một cách đồng bộ. Đồng thời, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng địa phương trong việc quản lý và bảo vệ khu bảo tồn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm đa dạng sinh học Thuật ngữ đa dạng sinh học (ĐDSH) được dùng lần đầu tiên vào năm 1988, sau khi Công ước Đa dạng sinh học được ra đời năm 1992 thì thuật ngữ ĐDSH đã được sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu [ 111]. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về đa dạng sinh học.

Công ước ĐDSH (1992) đã định nghĩa: “ĐDSH là sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất, nó bao gồm sự đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và sự đa dạng hệ sinh thái” [103]. Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên đưa ra khái niệm: “ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” [42]. Ở Việt Nam, khái niệm về ĐDSH đã được Luật Đa dạng sinh học (2008) định nghĩa như sau: “ĐDSH là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái tự nhiên” [66]. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, tính đa dạng sinh học được thể hiện ở 3 mức độ sau đây [83].

Đa dạng gen Đa dạng gen (hay đa dạng di truyền) được thể hiện ở mức độ phân tử, đó là trình tự sự sắp xếp của các nuleotit trong phân tử ADN của mỗi loài, thậm chí là của mỗi cá thể trong cùng một loài khác nhau là khác nhau. Tính chất này qui định các đặc trưng về hình thái, sinh thái và tính di truyền của từng loài. Đây là yếu tố tạo nên đa dạng của thế giới sinh vật trên Trái đất mà con người chúng ta đang sinh sống như hiện nay [69]. Đa dạng loài Tính đa dạng loài được thể hiện ở mức độ cá thể, nó được đặc trưng bởi khả năng trao đổi thông tin di truyền (giao phối, thụ phấn) với nhau và cho các thế hệ con cái hữu thụ (có khả năng sinh sản) giữa các loài với nhau.

Đa dạng loài là phạm trù chỉ mức độ phong phú về số lượng loài hoặc số lượng phân loài (loài phụ) trên Trái đất, ở một vùng địa lý, một quốc gia hay một sinh cảnh nhất định. Đa dạng hệ sinh thái Trong tự nhiên tồn tại những quần xã sinh vật bao gồm các loài sinh vật sinh sống trong một không gian nhất định ở một thời điểm nhất định, có mối quan hệ với nhau và với các nhân tố của môi trường tạo thành một thể thống nhất, tương đối ổn định. Những quần xã sinh vật như thế gọi là hệ sinh thái và ở đó vòng tuần hoàn vật chất, dòng năng lượng và dòng thông tin được thực hiện. Ða dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở cạn cũng như ở nước tại một vùng nào đó [87].

Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [83], nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều công nhận trên thế giới có nhiều hệ sinh thái khác nhau, gồm: (1) Rừng mưa nhiệt đới; (2) Rừng mưa á nhiệt đới - ôn đới; (3) Rừng lá kim ôn đới ; (4) Rừng khô nhiệt đới ; (5) Rừng lá rộng ôn đới ; (6) Thảm thực vật Địa Trung Hải ; (7) Sa mạc và bán sa mạc ẩm ; (8) Đồng rêu và sa mạc; (9) Sa mạc, bán sa mạc lạnh ; (10) Trảng cỏ và đồng cỏ nhiệt đới; (11) Đồng cỏ ôn đới; (12) Thảm thực vật vùng núi; (13) Thảm thực vật vùng đảo; (14) Thảm thực vật ao hồ. Khái niệm phát triển bền vững 1. Khái niệm Trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới” với nội dung: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”, thuật ngữ “Phát triển bền vững” lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1980 [16]. Khái niệm trên được sử dụng một cách chính thức trên quy mô quốc tế, trong báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) ghi rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.

Hay nói cách khác, phát triển bền vững là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người [80]. Qua các khái niệm trên ta thấy nội dung nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu, nước nghèo và giữa các thế hệ chứ không đơn thuần chỉ là các nhân tố sinh thái hay nhân tố xã hội, con người. Nội dung của phát triển bền vững Nội dung cơ bản của phát triển bền vững có thể được đánh giá bằng những tiêu chí nhất định về kinh tế, tình trạng xã hội, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường [34]. Bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá - xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch.

Bền vững về xã hội là phải xây dựng một xã hội có nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội, trong đó giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội. Bền vững về môi trường là các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được phải được sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất. Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên.) và môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, lao động và học tập của con người.), nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại. Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảo đảm, con người được sống trong môi trường trong sạch.

Những tiêu chí nói trên là những điều kiện cần và đủ để đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, nếu thiếu một trong những điều kiện đó thì sự phát triển sẽ đứng trước nguy cơ mất bền vững [34]. Các nguyên tắc của phát triển bền vững Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc trong tác phẩm “Hãy cứu lấy Trái đất - chiến lược cho một cuộc sống bền vững”, năm 1991 đã nêu ra 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững. Tuy nhiên, các nguyên tắc này thực sự khó áp dụng trong thực tế của một thế giới đầy các biến động về chính trị, kinh tế, văn hóa. Thực luan an tế đòi hỏi cần thiết lập một hệ thống nguyên tắc khác có tính khả thi và sát thực tế hơn.

Hệ thống 7 nguyên tắc mới do Luc Hens (1995) xây dựng về phát triển bền vững bao gồm: (1) Nguyên tắc về sự ủy thác của nhân dân; (2) Nguyên tắc phòng ngừa; (3) Nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ; (4) Nguyên tắc bình đẳng trong nội bộ thế hệ; (5) Nguyên tắc phân quyền, ủy quyền; (6) Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền; (7) Nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền (dẫn theo Nguyễn Đình Hòe, 2009 [37]). Khái niệm bảo tồn sinh học 1. Khái niệm Bảo tồn sinh học là một nguyên lý khoa học được xây dựng để bảo vệ các loài, thiết lập các khu bảo tồn mới và củng cố, nâng cấp các Vườn Quốc gia cũng là để xác định những loài nào trên Trái đất được bảo tồn cho tương lai. Bảo tồn sinh học là một khoa học đa ngành, tập hợp được rất nhiều người và nhiều tri thức thuộc các lĩnh vực khác nhau nhằm khắc phục tình trạng khủng hoảng ĐDSH hiện nay [60].

Từ khái niệm trên, có thể thấy rằng bảo tồn sinh học có hai mục tiêu: một là tìm hiểu những tác động tiêu cực do hoạt động của con người gây ra đối với các loài, các quần xã và các HST; hai là xây dựng các phương pháp tiếp cận để hạn chế sự tuyệt diệt của các loài và nếu có thể được, cứu trợ các loài đang bị đe dọa bằng cách đưa chúng hội nhập trở lại các HST đang còn phù hợp với chúng. Bảo tồn với phát triển bền vững ở Việt Nam Bảo tồn với phát triển bền vững (PTBV) ở Việt Nam đã được đặt ra từ vài chục năm gần đây, trong đó đề cập đến các vấn đề cơ bản như sau: - Thể chế, chính sách bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững ở Việt Nam Việt Nam đã hội nhập với thế giới khá sớm trong các lĩnh vực liên quan tới bảo tồn ĐDSH và PTBV. Việt Nam đã tham gia Hội nghị về Môi trường và phát triển năm 1992 và năm 1994 đã ký Công ước ĐDSH. Một hệ thống thể chế, các chính sách và pháp luật về môi trường, bảo tồn ĐDSH và PTBV đã được xây dựng khá đầy đủ ở nước ta.

Cụ thể: Việt Nam đã thành lập Hội đồng PTBV từ năm 2005, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách quan trọng để định hướng cho công tác luan an bảo vệ môi trường, bảo tồn ĐDSH, gắn với phát triển kinh tế-xã hội và nhiều văn bản luật, văn bản dưới luật để triển khai thực hiện trên thực tế. Nhiều chiến lược có liên quan đã được xây dựng, bao gồm: Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Chiến lược Phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020; Chiến lược Quản lý hệ thống khu BTTN Việt Nam đến năm 2010; Kế hoạch hành động Quốc gia về bảo vệ ĐDSH của Việt Nam (2007). Một hệ thống luật pháp liên quan đến lĩnh vực bảo tồn và phát triển đã được Chính phủ xây dựng và ban hành, trong đó quan trọng nhất là Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi năm 2005), Luật Tài nguyên nước (2012), Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi năm 2004) và Luật Biển Việt Nam (2012).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về đa dạng thực vật và giải pháp bảo tồn tại khu di tích Tân Trào, Tuyên Quang" của tác giả Đỗ Công Ba, dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Ngọc Công và TS. Lê Đồng Tấn, được thực hiện tại Đại học Thái Nguyên vào năm 2019. Bài luận án này tập trung vào việc nghiên cứu đa dạng thực vật tại khu di tích Tân Trào, đồng thời đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững cho khu vực này. Những điểm chính của nghiên cứu bao gồm việc đánh giá sự phong phú của các loài thực vật, tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học và các biện pháp cụ thể nhằm duy trì và phát triển hệ sinh thái tại Tân Trào.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Nghiên cứu quy trình nhân nhanh in vitro cây ráy mũi tên lá dài Alocasia longiloba, nơi nghiên cứu về công nghệ sinh học trong việc nhân giống thực vật, và Luận án tiến sĩ về khu hệ mollusca gastropoda ở nước ngọt và trên cạn tại Thừa Thiên Huế, nghiên cứu về đa dạng sinh học trong môi trường nước ngọt. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến các khía cạnh của sinh thái học và bảo tồn, giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về lĩnh vực này.