CHƯƠNG 1: HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TẠI CÁC CƠ SỞ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TRỌNG ĐIỂM 1. Nhu cầu năng lượng tại Việt Nam 1.1 Hiện trạng sử dụng năng lượng tại Việt Nam Mặc dù hiện nay có sự suy giảm của nền kinh tế thế giới nhưng triển vọng tăng trưởng kinh tế của nước ta trong trung hạn là khả quan. Nếu GDP tăng trưởng khoảng 6,9%/năm trong giai đoạn 2009-2018 và mức độ đàn hồi năng lượng sử dụng trên GDP là 1,7 [1] như đã xảy ra trong thập kỷ qua thì nhu cầu năng lượng sẽ tăng khoảng 12,1%/năm, giảm hơn một chút so với thập kỷ trước. Với tốc độ tăng trưởng như vậy, nhu cầu năng lượng sẽ tăng gấp ba lần trong khoảng 10 năm với tổng năng lượng tiêu thụ cuối cùng vượt quá 100 triệu TOE vào năm 2018.
Nguồn: IEA, Thống kê năng lượng năm (2009).1 Tiêu thụ năng lượng thương mại cuối cùng giai đoạn 1998-2007 Lượng điện năng tiêu thụ tăng gấp hơn ba lần trong giai đoạn 1999-2008 được cung cấp từ các nguồn năng lượng trong nước với chi phí năng lượng tương đối thấp. Tiêu thụ năng lượng cuối cùng của nước ta có xuất phát điểm ở mức độ tương đối thấp, khoảng 10,8 triệu TOE vào năm 1998 (hình 1.1), trong giai đoạn 1998-2008 đã đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiêu thụ năng lượng cho sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu nhu cầu năng Trang 1 Luan van Nghiên cứu việc áp dụng Hệ thống Quản lý Năng lượng và đề xuất lộ trình triển khai tại Việt Nam lượng trong nước lại tiếp tục tăng gấp ba lần trong thập kỷ tiếp theo sẽ là một thách thức quá lớn, lĩnh vực năng lượng sẽ gặp các vấn đề về phát triển các nguồn lực của mình để đáp ứng nhu cầu năng lượng và sẽ phải dựa năng lượng nhập khẩu ngày càng nhiều, bao gồm cả than và dầu. Theo tính toán quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia, trong giai đoạn 2010-2020, đã có khả năng xuất hiện sự mất cân đối giữa khả năng cung cấp và nhu cầu sử dụng các nguồn năng lượng sơ cấp nội địa.
Việt Nam chuyển thành nước nhập khẩu năng lượng và mức độ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu ngày một tăng. Tính đến năm 2020 nước ta sẽ tiếp tục phải nhập khẩu các sản phẩm dầu, trong khi giá dầu luôn dao động và gây áp lực rất lớn đến phát triển kinh tế-xã hội và hậu quả về tác động môi trường của việc cung và sử dụng năng lượng cũng có thể ở mức nghiêm trọng hơn mức độ hiện nay.2 Sử dụng năng lượng trong ngành công nghiệp Với mức độ sử dụng khoảng 45% sử dụng năng lượng cuối cùng của Việt Nam trong năm 2006 và vẫn đang tiếp tục tăng trưởng một cách nhanh chóng, sử dụng năng lượng hiệu quả trong các ngành này phải được quan tâm đặc biệt. Điều này bao gồm việc cắt giảm lãng phí năng lượng trong các ngành công nghiệp hiện nay, khả năng tiết kiệm trong ngành này khoảng từ 25-30%. Tuy nhiên, với mức độ tăng trưởng của ngành công nghiệp vào khoảng trên dưới 10%/năm như đã xảy ra trong giai đoạn 1999-2006 thì vấn đề quan trọng nhất liên quan đến sử dụng năng lượng hiệu quả là hiệu suất của các nhà máy mới.
Với tốc độ tăng trưởng liên tục khoảng 10%/năm thì năng lực công nghiệp mới được xây dựng trong vòng 7 năm tiếp theo sẽ bằng năng lực của toàn Việt Nam hiện nay. Đặc trưng sử dụng năng lượng của các nhà máy công nghiệp mới sẽ là yếu tố quyết định đối với như cầu sử dụng năng lượng của Việt Nam trong tương lai cũng như sự cần thiết phải nhập khẩu năng lượng. Những câu hỏi chính là loại nhà máy nào nên được phát triển và những công nghệ do các nhà máy này sử dụng sẽ có hiệu suất sử dụng năng lượng là bao nhiêu. Sự thay đổi cơ cấu của ngành công nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định nhu cầu năng lượng trong công nghiệp và cường độ sử dụng năng lượng cho một đơn vị gia tăng của ngành công nghiệp.2 thể hiện cơ cấu của ngành công nghiệp Việt Nam từ năm 1998.3 đưa ra tốc độ tăng trưởng sản xuất của một số loại hàng hóa sử dụng nhiều năng lượng.
Mỗi loại ngành đó đều đã tăng nhanh hơn giá trị sản xuất công Trang 2 Luan van Nghiên cứu việc áp dụng Hệ thống Quản lý Năng lượng và đề xuất lộ trình triển khai tại Việt Nam nghiệp của toàn quốc, điều đó cho thấy một sự chuyển dịch của nền công nghiệp ra những ngành có cường độ sử dụng năng lượng lớn hơn. Điện cho thương mại, công cộng, 3.1% Điện cho vận chuyển, Nhiên liệu cho thương 0.3% mại, công cộng, 5% Dầu cho công Nhiên liệu cho nghiệp, 27.8% Điện cho dân dụng, 15.1% Dầu cho vận Điện cho công nghiệp, chuyển, 25% 16.9% Nguồn: IEA, Thống kê năng lượng năm (2009).2 Tiêu thụ năng lượng theo ngành sử dụng năng lượng Bên cạnh cơ cấu của ngành công nghiệp và sử dụng năng lượng trong ngành công nghiệp được đánh giá dựa trên mức độ tiêu thụ năng lượng và điện năng tiêu thụ trên một đơn vị sản phẩm đầu ra (trên tấn thép thành phẩm hoặc 1000 viên gạch…). Đối với Việt nam cần phải đánh giá mức độ hiệu quả có thể cải thiện thông qua việc nâng cấp, cải tạo, tuy nhiên cũng cần tập trung vào các công nghệ sẽ được áp dụng trong các nhà máy mới do chúng sẽ có vai trò lớn nhất về mức độ sử dụng năng lượng trong tương lai. Một nhiệm vụ quan trọng là đánh giá công nghệ sử dụng năng lượng của các công nghệ đang được sử dụng trong các cơ sở sản xuất mới, khoảng cách giữa các công nghệ đang được áp dụng và công nghệ tốt nhất và các biện pháp để khuyến khích thu hẹp khoảng cách này.
Nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng nhiên liệu trong công nghiệp bao gồm cả phát triển công nghệ nồi hơi và hiệu suất của nó để đáp ứng nhu cầu về hơi và nhu cầu nước nóng, đồng phát cũng như cải thiện công nghệ của các dây truyền sản xuất. Cải thiện sử hiệu suất sử dụng điện liên quan đến các công nghệ như công nghệ biến tần của mô tơ, hiệu Trang 3 Luan van Nghiên cứu việc áp dụng Hệ thống Quản lý Năng lượng và đề xuất lộ trình triển khai tại Việt Nam suất theo công suất của thiết bị, hiệu suất của hệ thống truyền tải và phân phối, cải thiệt điều kiện kỹ thuật và quản lý lò luyện kim, hiệu chỉnh hệ số công suất, sử dụng và điều chỉnh công suất của thiết bị làm lạnh và công nghệ chiếu sáng… Nguồn: IEA, Thống kê năng lượng năm (2009).3 Tổng giá trị sản phẩm của các ngành công nghiệp chính của Việt Nam 1.3 Sử dụng năng lượng trong ngành điện Công suất phát điện hiện nay cũng như trong kế hoạch phát triển trong trung hạn bao gồm: thủy điện, nhiệt điện khí và dầu, và nhiệt điện than. Với tốc độ tăng trưởng của nguồn điện dự báo sẽ tiếp tục ở mức 15%/năm trong thập kỷ tới, vấn đề lớn nhất liên quan tới sử dụng năng lượng hiệu quả lĩnh vực điện là đảm bảo những nhà máy nhiệt điện mới sẽ có mức độ sử dụng các công nghệ và thiết bị hiệu quả càng cao càng tốt. Bên cạnh đó cũng cần lưu ý tới mục tiêu sử dụng năng lượng hiệu quả trong việc xây dựng những quy định về giá và điều độ nguồn điện trong một thị trường phát điện cạnh tranh, và hơn nữa cần có những nỗ lực để bảo đảm nguồn cung cấp khí tự nhiên cho các nhà máy điện được thiết kế sử dụng khí nhưng hiện nay đang phải sử dụng dầu như là một biện pháp tạm thời.
Với tỷ lệ tổn thất khoảng 11% hệ thống phân phối và truyền tải điện hiện nay được cho là tương đối tốt đối với một nước đang phát triển như Việt Nam. Tuy nhiên, tỷ lệ tổn Trang 4 Luan van Nghiên cứu việc áp dụng Hệ thống Quản lý Năng lượng và đề xuất lộ trình triển khai tại Việt Nam thất của hệ thống điện ở các vùng nông thôn thường năm trong khoảng 20-30% do việc phát triển hệ thống trung và hạ áp đã không theo kịp tốc độ tăng trưởng của phụ tải. Thêm vào đó, sự gia tăng nhanh chóng của các phụ tải mới bên cạnh chiếu sáng ở các vùng đô thị cho thấy sự cần thiết phải xem xét nhu cầu tăng hệ số bù của hệ thống điện. ` Nguồn: IEA, Thống kê năng lượng năm (2009).4 Tăng trưởng sản lượng của một số ngành công nghiệp sản suất sử dụng nhiều năng lượng 1.4 Sử dụng năng lượng trong giao thông vận tải Nguồn: IEA, Thống kê năng lượng năm (2009).5 Sử dụng năng lượng trong giao thông vận tải năm 1998 – 2007 Trang 5 Luan van Nghiên cứu việc áp dụng Hệ thống Quản lý Năng lượng và đề xuất lộ trình triển khai tại Việt Nam Ngành giao thông sử dụng khoảng ¼ tổng nhu cầu năng lượng cuối cùng của nước ta và sẽ là yếu tố chính quyết định mức độ nhập khẩu sản phẩm dầu mỏ.
Các chỉ tiêu về năng lượng sử dụng trong giao thông là tiêu thu nhiêu liệu trên khách hàng-km hoặc trên hàng hóa –km. Mức độ sử dụng năng lượng hiệu quả trong ngành giao thông được xác định thông qua một vài cách thông qua mức độ sử dụng năng lượng cho từng loại phương tiện hoăc ở mức độ rộng hơn như phương thức phát triển giao thông. Giảm chi phí luôn là mối quan tâm quan trọng trong xây dựng các chiến lược phát triển giao thông. Ở nước ta có hai xu hướng phát triển giao thông lớn mà có liên quan lớn đến hiệu suất sử dụng năng lượng vai trò của ô tô và xe máy, xe buýt và các phương tiện giao thông đường sắt cho giao thông của khu vực đô thị và bán đô thị; Chuyên trở hàng hóa bằng đường bộ và bằng đương biển, gồm cả vận tải dường biển và đường sông.
Ở một vài khía cạnh nhỏ hơn, liên quan cụ thể đến sử dụng năng lượng gồm mứcđộ tiêu hao nhiên liệu của phương tiện (bao gồm cả công nghệ và cách thức sử dụng), và các tiềm năng sử dụng các loại nhiên liệu thay thế như nhiên liệu khí, hoặc xe điện.5 Sử dụng năng lượng trong lĩnh vực xây dựng Trong những năm 1990, số nhà cao tầng tại Việt Nam đã tăng tới hơn 100 công trình. Đến đầu năm 2009, theo ước tính con số này sẽ tăng khoảng trên dưới 4000 bao gồm các công trình thương mại quy mô lớn. Ước tính này không bao gồm các dự án hiện đang trong giai đoạn lập kế hoạch, thiết kế và xây dựng.