CHƯƠNG 1 HỌC THUYẾT VÔ VI CỦA LÃO TỬ 1. LÃO TỬ VỚI ĐẠO ĐỨC KINH 1. Thân thế và sự nghiệp Theo sử kí Tư Mã Thiên, Lão Tử người nước Sở, tên thật là Lý Nhĩ, tự là Bá Dương, hiệu là Lão Đan là người sống cùng thời với Khổng Tử. Lão Tử vốn người huyện Khổ, Hưng Lệ, làng Khúc Nhân, nước Sở (thuộc miền Nam tỉnh Hà Nam bây giờ).
Ông làm quan sử, giữ kho chứa sách, tàng trữ thất sử nhà Chu được coi như là giám đốc thư viện quốc gia ngày nay. Ông ở nước Chu đã lâu, thấy nhà Chu suy bèn bỏ đi. Đến cửa quan, viên coi quan là Doãn Hỉ bảo: “Ông sắp đi ẩn, ráng vì tôi mà viết sách để lại”. Thế là Lão tử viết một cuốn gồm hai thiên thượng và hạ, nói về ý nghĩa của “Đạo” và “Đức”, được trên năm ngàn chữ.
Viết xong rồi đi, không ai biết chết ra sao, ở đâu. Có một giai thoại kể về Lão Tử và Khổng Tử rằng: Khi Khổng tử qua Chu, lại hỏi Lão tử về lễ, Lão Tử đáp: “Những người ông nói đó, thịt xương đều đã nát thịt cả rồi, chỉ còn lại lời của họ thôi. Vả lại, người quân tử nếu gặp thời thì ngồi xe ngựa, không gặp thời thì đội nón lá mà đi chân. Tôi nghe nói người buôn giỏi thì giấu kĩ vật quí, coi ngoài như không có gì người quân tử đức cao thì dung mạo như ngu độn.
Ông nên bỏ cái khí kiêu căng, cái lòng đa dục, cái vẻ hăm hở cùng cái chí quá hăng của ông đi, những cái đó không có ích gì cho ông đâu. Tôi chỉ khuyên ông có bấy nhiêu thôi”. Khổng Tử về, bảo môn sinh: “Loài chim, ta biết nó bay được, loài cá ta biết nó lội được loài thú ta biết nó chạy được. Chạy thì ta dùng lưới để bẫy, lội thì ta dùng câu để bắt, bay thì ta dùng tên để bắn.
Đến loài rồng cưỡi gió mây mà lên trời thì ta không sao biết được. Hôm nay ta gặp ông Lão tử, ông ta là con rồng chăng?”. 12 Lão Tử sống trong suốt một trường kỳ hỗn loạn của lịch sử Trung Hoa được nhớ tới như thời Chiến Quốc. Lúc bấy giờ hàng chục lãnh chúa tiểu quốc bày mưu tính kế tranh giành quyền lực, các vương quốc nổi lên rồi suy tàn như sóng biển, với những liên minh hình thành trong đêm tối để rồi tan rã khi bình minh tới, và chiến tranh lan tràn trên khắp lãnh thổ.
Lão Tử trau dồi đạo đức, học thuyết của ông cốt ở chỗ giấu mình, ẩn danh. Toàn bộ tư tưởng của ông, được trình bày ngắn gọn và súc tích trong cuốn Đạo Đức Kinh, gồm 81 chương, chia làm hai thiên Thượng và Hạ, khoảng 5000 từ Trung Quốc. Đạo đức kinh của Lão Tử vạch một lối thoát cho những ai, là kẻ bất mãn thế cuộc nhiễu nhương, đầy cạm bẫy như thời Xuân Thu Chiến Quốc, có được một lẽ sống riêng, hợp với bản chất chân thật của mình. Đồng thời tránh được lối phản kháng bằng hành động phạm pháp cá nhân, hoặc bạo lực tập thể, khiến cho xã hội mà mình đã bất mãn càng thêm hỗn loạn, rối ren.
Tác phẩm Đạo đức kinh Bối cảnh lịch sử ra đời của Đạo đức kinh Trung Hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn có hai miền khác nhau. Miền bắc có lưu vực sông Hoàng Hà đất đâi khô cằn, sản vật hiếm hoi. Miền Nam có lưu vực Sông Dương Tử khí hậu ấm áp cây cối xanh tươi, sản vật phong phú. Trung Hoa cổ đại có lịch sử lâu đời từ cuối thiên niên kỉ thứ 3 TCN đến thế kỉ 3 TCN.
Với một trọng những giai đoạn văn minh liên tục dài nhất của thế giới và hệ thống chữ viết tiếp tục được dùng cho đến nay, lịch sử Trung Quốc đặc trưng bởi những chia tách và thống nhất lặp đi lặp lại hòa bình chiến tranh trên một lãnh thổ đầy những biến động. Một trong những thời kì lịch sử được ghi nhớ nhất của lịch sử Trung Quốc là thời kì Xuân thu - Chiến quốc kéo dài từ năm 770 đến năm 221 TCN. Người ta thường gọi đây là thời kỳ “ thai 13 nghén triết học”. Xã hội Trung Quốc rơi vào thời kì hỗn lọan: Một đằng các quân phương Bắc kéo xuống dày xéo, một đằng phía Nam thình lình mạnh lên, khu đất trung nguyên của Tàu hơn 300 năm không ngày nào không có những cuộc chiến tranh xâm phạm.
Trong thời đại đó không biết bao nhiêu nước bị tiêu diệt, bao nhiêu nhà bị phá, bao nhiêu người bị chết oan, cụ thể như sau: Về kinh tế Tuy tình hình chính trị rối ren, chiến tranh liên miên nhưng nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt. Nền sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển. Sự phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng cao, tiền tệ đã xuất hiện. Về khoa học, họ đã phát minh ra chữa viết và dựa vào sự quan sát của mặt trăng, các vì sao, chu kì của nước sông và quy luật sinh trưởng của cây trồng mà họ đã viết ra lịch.
Về chính trị Đây là thời kì bạo loạn nhất trong lịch sử Trung Quốc thời Xuân Thu có khoảng 242 năm thì đã xảy ra 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ. Trong nhiều tài liệu như Kinh Thi, Quốc Ngữ, Tả Truyện ta có thể thấy được. Như Hồ Thích đã miêu tả tình hình chính trị hồi đó bằng những hiện trạng sau: Chiến tranh lâu quá, khiến cho dân chúng chết hại, phiêu bạt, đau khổ, không thể chịu nổi. Tình trạng lễ nghĩa, cương thường, đảo lộn, đạo đức suy đồi dân đen phải chịu cảnh cùng cực thì các vương hầu quý tộc sống rất xa hoa.
Các nước xâm chiếm lẫn nhau làm cho nhiều nước bị mất nhiều nhà phá tan, xã hội phân biệt giàu nghèo sâu sắc. Chính trị của các nước thời ấy đều tối tăm. Cùng với thực tiến lịch sử xã hội cho ta thấy chân tướng của thời đại Xuân Thu, Chiến Quốc cùng vơi sự phát triển về thiên văn, địa lý, cơ học, văn học… làm tiền đề nảy sinh tư tưởng học thuyết triết học ở Trung Quốc cổ đại. 14 Kích thích lòng người khiến các bậc tài sĩ đương thời quan tâm lí giải đê tìm ra phương pháp giải quyết “Cứu đời, cứu người”, làm nảy sinh ra các loạt các nhà tư tưởng nổi tiếng ở các trường phái triết học lớn.
Nó thực sự trở thành điểm đỉnh của toàn bộ đời sống văn hóa tinh thần của xã hội Trung Hoa cổ đại, như một các mốc son chói lọi trong lịch sử tư tưởng Phương Đông. Về tư tưởng triết học Chính trong thời đại lịch sử biến đổi sâu sắc toàn diện đó đã đặt ra những vấn đề triết học, chính trị xã hội, lí luận đạo đức. Các nhà tư tưởng, các môn phái triết học là đại diện cho giai cấp tầng lớp xã hội khác nhau vừa kế thừa tư tưởng của nhau vừa kết hợp vừa đấu tranh quyết liệt tạo nên không khí sôi động trong đời sống tinh thần xã hội Trung quốc cổ đại. Sự phong phú, đa dạng của các hệ thống triết học thời Xuân Thu- Chiến Quốc, khiến người ta phải gọi là thời kì “ Bách gia chư tử”, như “Trăm hoa đua nở muôn chim cùng hót”.
Chính trong quá trình ấy đã sản sinh ra nhà tư tưởng lớn và hình thành nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh như: Nho gia, Mặc gia, Âm dương gia, Danh gia, Pháp gia, Nông gia, Đạo gia cũng được ra đời trong bối cảnh này. Lão Tử là nhà triết học lớn với học thuyết Vô Vi. Ông là người sáng lập trường phái triết học Đạo gia, một trong ba trường phái triết học lớn thời Xuân Thu. Ông đã đúc kết nhiều tư tưởng phổ biến từ thời nhà Chu như vũ trụ luận về thiên địa, ngũ hành, chân khí, thuyết âm dương và Kinh Dịch, ông đã học thuyết hóa những tư tưởng triết lí của truyền thống văn hóa phương Nam.
Triết lí của ông có ảnh hưởng rất lớn đến xã hội đương thời và sau này được các học trò ông phát triển nên. Trong lĩnh vực nhận thức phát triển tư tưởng biện chứng của Lão Tử, Trang Tử đã tuyệt đối hóa sự vân động, xóa nhòa mọi ranh giới giữa con người với thiên nhiên, giữa phải và trái, giữa tồn tại và hư vô. Đến cuối thời Đông Hán, tư tưởng của Lão Tử cộng với chất duy 15 tâm mà Trang Tử đưa vào đã trở thành cơ sở cho việc thần bí hóa Đạo gia thành Đạo giáo. Nội dung Đạo đức kinh Đạo Đức Kinh có nghĩa đen là “sách về con đường và đức hạnh”, là kinh sách căn bản của phái Đạo gia và có ảnh hưởng lớn các trường phái khác như Pháp gia và Nho gia hậu kì.
Đạo Đức Kinh là cuốn sách được dịch nhiều thứ tiếng nhiều thứ hai trên thế giới chỉ sau Kinh thánh của Ki Tô giáo. Đạo Đức Kinh có tới cả trăm bản dịch ra các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha. Riêng trong tiếng Việt có các bản dịch của Nguyễn Duy Cần, Nghiêm Toản, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Tôn Nhan. Triết học của Lão Tử như một kim tự tháp lớn trong triết học của Trung Quốc, cùng với Nho giáo, nó như cái bóng bao trùm triết học Trung Hoa.
Tác phẩm Đạo đức kinh của Lão Tử là cuốn sách khoảng 5000 chữ, gồm hai phần. Thượng là Đạo Kinh gồm 37 chương, bàn về Đạo lớn của vũ trụ. Hạ là Đức Kinh gồm 44 chương bàn về Đức. Lão Tử đã viết theo hình thức câu dài ngắn khác nhau, giàu âm điệu và đọc lên nghe như thơ tự do thời nay.
Súc tích, không chấm câu, không lý luận. Không chứng minh dài dòng. Thể được dùng là cổ văn, một loại văn ngắn gọn, khó thuộc lòng và không dễ hiểu. Vì thế, nó có vẻ như chỉ gợi ý và bắt người đọc phải ngẫm nghĩ, tưởng tượng.
Và người đọc có rất nhiều cơ hội tiếp nối quá trình sáng tạo, tư duy, cho tác phẩm sinh động, thấm sâu, được triển khai thêm theo mỗi lần đọc. Đạo đức kinh bao trùm và dẫn dắt các quá trình tư tưởng của Trung Hoa. Có thể nói những tư tưởng triết học cơ bản của Lão Tử được thể hiện chủ yếu qua tác phẩm Đạo Đức kinh. Đây cũng là bộ sách kinh điển của trường phái Đạo gia thể hiện qua những lý luận về Đạo và Đức.
Những lý luận này vừa thể hiện quan niệm biện chứng về thế giới của Lão Tử, vừa là cơ sở lý luận để Lão Tử xây dựng “thuyết vô vi”.