Chương 1 : Cơ sở lý luận và tổng quan tài liệu. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế và vai trò của nó trong quản lý môi trường ở nước ta. Chương 4: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở nước ta.
8 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận về tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Môi trường và phát triển bền vững 1. Môi trường Môi trƣờng là khái niệm đƣợc nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau. Nhìn chung có những quan niệm nhƣ sau: - Môi trƣờng bao gồm các vật chất hữu cơ và vô cơ quanh sinh vật. Theo định nghĩa này thì không thể nào xác định đƣợc môi trƣờng một cách cụ thể, vì mỗi cá thể, mỗi loài, mỗi chi vẫn có một môi trƣờng và một quần thể, một quần xã lại có một môi trƣờng rộng lớn hơn.
- Môi trƣờng bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con ngƣời, có ảnh hƣởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con ngƣời và thiên nhiên (Điều 1, Luật Bảo Vệ Môi Trƣờng của Việt Nam, 1993) Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, môi trƣờng đƣợc định nghĩa “bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con ngƣời, có ảnh hƣởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con ngƣời và thiên nhiên” [70, tr. Hiểu theo nghĩa rộng, môi trƣờng là khái niệm “chỉ toàn bộ các điều kiện vô cơ và hữu cơ có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của các cơ thể sống, bao gồm tất cả những gì đang tồn tại khách quan, là toàn bộ thế giới với tất cả các hình thức biểu hiện muôn màu của nó” [45, tr. Luật Bảo vệ môi trường (2005) của nƣớc ta thì cho rằng, môi trƣờng “bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con ngƣời, có ảnh hƣởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con ngƣời và sinh vật” [113, tr. Theo quan niệm của UNESCO, môi trƣờng của con ngƣời bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con ngƣời tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa.) và những cái vô hình (tập quán, niềm tin, nghệ thuật.), trong đó con ngƣời bằng lao động, tiến hành khai thác các loại tài nguyên nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình.
Với nghĩa này, môi trƣờng sống đối với con ngƣời không chỉ là nơi tồn tại, sinh trƣởng, phát triển mà còn là khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự nghỉ ngơi của con ngƣời. 9 z Nhƣ vậy, môi trƣờng là khái niệm có nội hàm rộng lớn. Từ khái niệm này ngƣời ta chia ra thành các khái niệm hẹp hơn nhƣ “môi trƣờng tự nhiên”, “môi trƣờng xã hội”, “môi trƣờng nhân tạo”, “môi trƣờng sinh thái”, “môi trƣờng sinh thái nhân văn”… Mỗi khái niệm đó lại đƣợc nghiên cứu ở các góc độ khác nhau. Không thể đi sâu vào từng khái niệm, đề tài chỉ đề cập tới những khái niệm điển hình nhất, đƣợc nhiều ngƣời thừa nhận và có mối liên quan chặt chẽ tới đối tƣợng nghiên cứu.
Luật Bảo vệ môi trường (năm 2005) ở nƣớc ta quy định: “Hoạt động bảo vệ môi trƣờng là hoạt động giữ cho môi trƣờng trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đến môi trƣờng, ứng phó sự cố môi trƣờng; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trƣờng; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học” [113, tr. Ở khái niệm này, bảo vệ môi trƣờng không chỉ là khái niệm mang tính hành động của con ngƣời nhằm tác động trực tiếp vào môi trƣờng, khắc phục sự ô nhiễm, suy thoái môi trƣờng mà còn bao hàm cả việc khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học. Phát triển bền vững Khái niệm về phát triển bền vững: Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tƣơng lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hƣớng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa.
riêng để hoạch định chiến lƣợc phù hợp nhất với quốc gia đó. Khái niệm này đƣợc phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland. Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là: "Sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trƣờng đƣợc bảo vệ, gìn giữ.
Để đạt đƣợc điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội. phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trƣờng. “Phát triển bền vững” có nội hàm rất rộng, mỗi thành tố trong đó đều có một ý nghĩa riêng, trong đó những thành tố xem xét chủ yếu sẽ gắn với (hệ thống kinh tế, phát triển kinh tế, mối quan hệ giữa môi trƣờng và hệ thống kinh tế). 10 z Khái niệm về hệ thống kinh tế: Hệ thống kinh tế là một quy trình bao gồm sản xuất, phân bố các yếu tố đầu vào, phân phối các yếu tố đầu ra của sản xuất, tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế.
Đây là một hệ thống mở, bên cạnh mối quan hệ nội tại hình thành bên trong hệ thống kinh tế- mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất của các yếu tố, thành phần trong hệ thống kinh tế, còn tồn tại mối quan hệ giữa toàn bộ hệ thống kinh tế với hệ thống bên ngoài. Khái niệm về phát triển kinh tế: Phát triển kinh tế là quá trình cải thiện và nâng cao chất lƣợng sống cho ngƣời dân của một quốc gia (bao gồm các điều kiện sống về vật chất và tinh thần) với sự tăng trƣởng bền vững từ nền kinh tế đơn giản, thu nhập thấp sang nền kinh tế hiện đại, thu nhập cao. Phát triển là xu thế chung của nhân loại, là sự tăng tiến mọi mặt trong nền kinh tế. Mối quan hệ giữa môi trường và hệ thống kinh tế Môi trƣờng và hệ thống kinh tế có mối quan hệ tƣơng tác, có sự gắn kết chặt chẽ với nhau.
Môi trƣờng vừa là yếu tố đầu vào, vừa là yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất. Môi trƣờng là nơi cung cấp các nguyên vật liệu, năng lƣợng cho quá trình sản xuất (nhƣ khoáng sản, gỗ, dầu mỏ…), là không gian sống, cung cấp các giá trị cảnh quan, vui chơi, giải trí phục vụ cho cuộc sống của con ngƣời. Môi trƣờng cũng là nơi chứa chất thải của các hoạt động trong nền kinh tế nhƣ quá trình sản xuất, quá trình lƣu thông và quá trình tiêu dùng. Các chất thải ra môi trƣờng tồn tại dƣới nhiều dạng nhƣ: dạng rắn, dạng khí, dạng lỏng.1 Mối quan hệ giữa môi trƣờng và hệ thống kinh tế (Nguồn: Nguyễn Thế Chinh, 2003, Kinh tế và quản lý Môi trƣờng, tr.38, Nhà xuất bản thống kê, Đại học Kinh tế quốc dân) Ý niệm "phát triển bền vững" nhấn mạnh đến khả năng phát triển kinh tế liên tục lâu dài, không gây ra những hậu quả tai hại khó khôi phục ở những lĩnh 11 z vực khác, nhất là thiên nhiên.
Phát triển mà làm hủy hoại môi trƣờng là một phát triển không bền vững, phát triển mà chỉ dựa vào những loại tài nguyên có thể cạn kiệt là một phát triển không bền vững. Có quan điểm còn cho rằng phát triển phụ thuộc quá nhiều vào ngoại lực (nhƣ FDI) cũng là khó bền vững. Nói ngắn gọn, phát triển là không bền vững nếu nó thật "nóng" đó không thể giữ lâu, nền kinh tế chóng rơi vào khủng hoảng, hay ít nhất cũng chậm lại trong tƣơng lai. Vai trò của môi trường đối với phát triển bền vững Quá trình phát triển kinh tế sẽ góp phần tạo ra nguồn tài chính hỗ trợ cho quá trình cải tạo môi trƣờng, phòng chống suy thoái, sự cố môi trƣờng xảy ra… Phát triển kinh tế tạo tiềm lực để BVMT.
Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế diễn ra với tốc độ nhanh và mạnh cũng dẫn đến việc khai thác, sử dụng quá mức các tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng, gây nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm, suy thoái môi trƣờng. Mối quan hệ giữa bảo vệ thiên nhiên và sử dụng tài nguyên thiên nhiên cũng là mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức quốc tế từ sau đại chiến thế giới II (UNDP, UNESCO, WHO, FAO, và ICSU). Các tổ chức này đã phối hợp chặt chẽ trong việc tìm hiểu diễn biến môi trƣờng tự nhiên, từ đó đƣa ra chƣơng trình hành động hƣớng các quốc gia phát triển theo mô hình bền vững. Năm 1951, UNESCO đã xuất bản một tài liệu đáng lƣu ý với tiêu đề "Thực trạng bảo vệ môi trƣờng thiên nhiên trên thế giới vào những năm 50".
Tài liệu này đƣợc cập nhật vào năm 1954 và đƣợc coi là một trong số những tài liệu quan trọng của "Hội nghị về môi trƣờng con ngƣời" (1972) do Liên hiệp quốc tổ chức tại Stockholm (Thuỵ Điển) và cũng đƣợc xem nhƣ là "tiền thân" của báo cáo. Theo Brundtland: "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và không phƣơng hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tƣơng lai. Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên đƣợc tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con ngƣời, động vật và thực vật. Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sình thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con ngƣời, nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nƣớc giàu và nghèo, và giữa các thế hệ.