phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có 03 chương, cụ thể như sau: Chƣơng 1: Trình bày cơ sở lý luận của đề tài Chƣơng 2. Tìm hiểu các dạng xung đột môi trường và nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường giữa công ty giấy Bãi Bằng, công ty giấy Việt Trì với các cộng đồng dân cư xung quanh. Đề xuất những biện pháp hạn chế ô nhiễm môi trường giũa công ty giấy Bãi Bằng, công ty giấy Việt Trì với các cộng đồng dân cư xung quanh Footer Page 16 of 107. 11 Header Page 17 of 107.
NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Các khái niệm công cụ 1.1 Khái niệm môi trường Trong những bối cảnh và cách tiếp cận khác nhau khái niệm môi trường (MT) được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo luật bảo vệ môi trường năm 2005 thì: “Môi trường gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sự vật” [2;16]. Theo UNEP định nghĩa: “Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, khoa học xã hội tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng”[2;185]. UNESCO-1967 định nghĩa: “Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình và cái vô hình (tập quán, niềm tin…), trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình”.
Bách khoa toàn thư về môi trường- 1994 lại định nghĩa:“Môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội- nhân văn và các điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động của con người trong thời gian bất kì”. Với định nghĩa trên, có thể hiểu rằng môi trường bao gồm: Các thành tố sinh thái tự nhiên gồm: đất, nước, không khí, thực vật, động vật, các hệ sinh thái, các trường vật lý (nhiệt, điện từ, phóng xạ). Các thành tố xã hội- nhân văn gồm: Dân số, các động lực dân cư, tiêu dùng, xả thải, nghèo đói, giới, dân tộc, tập quán, phong tục, lối sống, luật pháp, hương ước, các cách tổ chức xã hội. Các điều kiện tác động bao gồm: Các chương trình và dự án phát triển kinh tế, hoạt động quân sự, chiến tranh…các hoạt động kinh tế (nông nghiệp, Footer Page 17 of 107.
12 Header Page 18 of 107. lâm nghiệp, công nghiệp, du lịch, xây dựng, đô thị hóa…), công nghệ, kĩ thuật, quản lý [1;14]. Trong luận văn này, tác giả dùng khái niệm: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất, nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người” [2;16]. Với định nghĩa này, các thành tố văn hóa xã hôi, và các điều kiện tác động không được coi là những thành phần của môi trường.
Lý do là luận văn này chỉ bàn đến ô nhiễm môi trường theo nghĩa là ô nhiễm môi trường tự nhiên, vật chất chứ không phải ô nhiễm môi trường xã hội – văn hóa hay điều kiện tác động như đã đề cập đến ở trên. Khái niệm ô nhiễm môi trường dưới đây sẽ đề cập đến cụ thể hơn vấn đề ô nhiễm môi trường.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường Theo luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005 thì: “Ô nhiễm môi trường (ÔNMT) là trạng thái thành phần môi trường bị biến đổi do chất ô nhiễm gây ra ở mức vượt tiêu chuẩn môi trường” [20;8]. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa thì:“ÔNMT là việc chuyển các chất thải hoặc các nguyên liệu vào môi trường đến mức có khả năng gây hại cho sức khỏe của con người và sự phát triển của sinh vật hoặc làm giảm chất lượng môi trường sống” [2;75]. Ô nhiễm môi trường là do con người tạo ra và có các dạng ô nhiễm cơ bản như sau: - Ô nhiễm môi trường đất: xảy ra khi đất bị nhiễm các chất hóa học độc hại.
Hiện nay đất ở nước ta bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng, nguyên nhân là do các hoạt động có chủ động của con người như khai thác bầu khoáng sản, sản xuất công nghiệp, rừng bị tàn phá nặng nề, độ che phủ rừng ngày càng bị giảm sút, mưa lũ làm cho rừng bị xói mòn, bạc màu, việc sử dụng phân bón hóa học và các loại thuốc trừ sâu cũng làm cho đất bị ô nhiễm [20;8]. Footer Page 18 of 107. 13 Header Page 19 of 107. - Ô nhiễm không khí: Việc xả khói bụi và các chất hóa học vào bầu không khí vượt quá giới hạn cho phép cụ thể là quá trình phát triển của các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và ô nhiễm do các hoạt động khác của con người gây nên [20;8].
- Ô nhiễm nước: Đây là loại ô nhiễm gây nguy hại nhất vì ô nhiễm nước tác động trực tiếp đến sức khỏe con người, là nguồn gốc gây ra các loại bệnh đồng thời ảnh xấu đến sự sống của sinh vật. Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước rác công nghiệp, nước thải từ các khu dân cư, các nhà máy, xí nghiệp, phân bón, thuốc trừ sâu…cũng là nguyên nhân gây ra ô nhiễm [20;8]. Ngoài ra còn có các loại ô nhiễm khác như ô nhiễm phóng xạ, ô nhiễm rác thải rắn, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm sóng … 1.3 Khái niệm suy thoái môi trường “Suy thoái môi trường là sự thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần môi trường gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên” [20;2]. Trong đó thành phần của môi trường được hiểu là các yếu tố tạo thành môi trường như: Không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi từng, sông, hồ, biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, bảo tồn thiên nhiên, quang cảnh thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác.4 Khái niệm xung đột môi trường 1.1 Khái niệm xung đột môi trường Có nhiều định nghĩa khác nhau của những tác giả khác nhau trên thế giới: Xung đột môi trường là xung đột chính trị, xã hội, kinh tế, tôn giáo, lãnh thổ, tộc người hoặc là xung đột với các nguồn tài nguyên hay là các lợi ích quốc gia, hoặc là bất cứ loại xung đột nào.
Đó là những xung đột mang Footer Page 19 of 107. 14 Header Page 20 of 107. tính truyền thống thường gây ra bởi sự suy thoái môi trường. Xung đột môi trường được đặc trưng bởi sự suy thoái môi trường qua một hoặc hơn một trong số các chiều cạnh sau: Lạm dụng nguồn tài nguyên có thể tái sinh, hoặc tình trạng căng thẳng của năng lực môi trường trong việc thẩm thấu hay còn gọi là ô nhiễm.
Cả hai nguyên nhân này đều dẫn đến sự xuống cấp của không gian sống [1;124]. Xung đột môi trường là những xung đột dữ dội do sự khan hiếm môi trường gây ra trong sự tương tác với nhiều yếu tố, thường là các yếu tố có tính chất bối cảnh, tình huống cụ thể. Xung đột môi trường xuất hiện qua ba hình thức: khan hiếm do nhu cầu (nghĩa là sự khan hiếm nảy sinh do nhu cầu gia tăng, chẳng hạn do gia tăng dân số), khan hiếm do nguồn cung (nghĩa là sự khan hiếm gây ra do sự sụt giảm tổng thể những nguồn tài nguyên cụ thể, có sẵn do sự suy thoái hoặc cạn kiệt) và khan hiếm cấu trúc (nghĩa là sự khan hiếm nảy sinh từ việc phân bố không đồng đều các nguồn tài nguyên hoặc là từ việc tiếp cận đối với các nguồn tài nguyên) [1;127]. Xung đột môi trường là xung đột giữa quyền lợi của cộng đồng, vị trí nghề nghiệp và ưu tiên chính trị, là những mâu thuẫn giữa hiện tại và tương lai, giữa bảo tồn và phát triển.
Kết quả của xung đột môi trường có thể là xây dựng hoặc phá hủy phụ thuộc vào quản lý xung đột [4;11]. Xung đột môi trường là là kết quả của việc sử dụng tài nguyên do một nhóm người gây bất lợi cho nhóm khác [4;11]. Xung đột môi trường là kết quả của việc khai thác quá mức hoặc lạm dụng tài nguyên thiên nhiên [4;11]. Trên thực tế, tồn tại nhiều loại xung đột nhưng xung đột môi trường chỉ có thể xuất phát từ một loại xung đột đó thường là xung đột về lợi ích.
Vì lợi ích trước mắt của một nhóm hoặc sự thỏa hiệp lợi ích của các nhóm mà môi trường bị ô nhiễm, có nguy cơ bị hủy hoại. Như vậy có thể tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về xung đột môi trường của các tác giả khác nhau nhưng nhìn chung các tác giả đều thống nhất Footer Page 20 of 107. 15 Header Page 21 of 107. với nhau ở những điểm như: Xung đột môi trường là quá trình hình thành và phát triển mâu thuẫn giữa các cá nhân hoặc các nhóm xã hội trong sự liên quan đên các vấn đề môi trường [4;24].2 Đặc điểm của xung đột môi trường Theo Valerie Brow trong Risks and opportunities, earths can Publications LTD, London có các đặc điểm sau: Xung đột là một bộ phận hiển nhiên của quá trình biến đổi.
Nó không phải là kết quả của sự sai lầm của con người cũng không phải sai lầm của hệ thống. Xung đột là một bước quan trọng trong quá trình giải quyết vấn đề. Xung đột có thể chia sẻ. Nó không phải là trách nhiệm của riêng ai hoặc của riêng nhóm nào.
Xung đột có thể quản lý được nhưng là sự quản lý cần có thời gian và nguồn lực [25;36].3 Các dạng xung đột môi trường Có nhiều cách phân loại khác nhau về xung đột môi trường, nhưng theo Vũ Cao Đàm trong “Nghiên cứu xã hội về môi trường” thì có thể chia xung đột môi trường thành những dạng sau đây: - Xung đột nhận thức: “Đây là dạng xung đột căn bản nhất, có căn nguyên từ sự hiểu biết khác nhau trong hành động của các nhóm dẫn tới phá hoại môi trường” [14;33]. Ví dụ: Đó là những bất đồng trong việc nên hay không nên xây dựng nhà máy giấy nằm trong khu vực thành phố nơi có đông dân cư tập trung. - Xung đột mục tiêu: “Mục tiêu hoạt động của các nhóm dẫn đến xung đột” [14;33]. Ví dụ Công ty giấy dùng hóa chất để tẩy trắng giấy nhưng dẫn đến việc gây ô nhiễm không khí ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân, cộng đồng dân cư xung quanh.