phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nội dung luận văn có cấu trúc 3 chƣơng nhƣ sau: CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về lũ quét và cơ sở lý luận thành lập bản đồ phân vùng lũ quét 1.
Tổng quan về lũ quét 1. Khái niệm và phân loại lũ quét a) Khái niệm về lũ quét Theo Văn phòng Điều phối các vấn đề nhân đạo của Liên Hợp Quốc (OCHA), lũ quét là lũ lớn, xảy ra trong thời gian ngắn, khi có bão, mƣa lớn tập trung nhanh, sinh ra lũ trên các sƣờn dốc, sóng lũ có thể truyền rất nhanh gây ra những tàn phá bất ngờ và nghiêm trọng. Do lũ hình thành trong một thời gian ngắn nên việc dự báo rất khó khăn. Theo Tổ chức Khí tƣợng thế giới (WMO), lũ quét thƣờng xảy ra trên diện hẹp và ngắn hạn, biểu đồ lũ nhọn, nƣớc lũ bất ngờ xuất hiện và biến mất ở thƣợng nguồn, lên xuống rất nhanh - duy trì trong thời gian ngắn.
Theo Tổ chức Phòng chống thiên tai Úc, lũ quét xảy ra do những trận mƣa dông ngắn, cƣờng độ lớn, do xảy ra bất ngờ nên lũ quét gây tác hại to lớn về đời sống xã hội. Lũ quét đặc biệt nghiêm trọng đối với nơi có hệ thống tiêu nƣớc kém. Theo Cơ quan Khí tƣợng Úc cho rằng, lũ quét là hiện tƣợng lũ xuất hiện bất ngờ mà thời gian từ lúc bắt đầu mƣa tới đỉnh lũ thƣờng nhỏ hơn sáu giờ. Lũ quét thƣờng do hoạt động của các cơn dông và có thể xảy ra nhiều vùng thuộc nƣớc Úc.
Theo [32], các trận lũ quét xuất hiện là kết quả của sự tập trung một lƣợng nƣớc do mƣa dông lớn, nhanh chóng ở một vùng đồi núi, tốc độ lũ và sức tàn phá do lũ đã tạo nên sự nguy hiểm của lũ. Theo [6, 9], cho rằng: lũ quét là một loại lũ lớn, xảy ra bất ngờ, duy trì trong một thời gian ngắn (lên nhanh và xuống nhanh) và có sức tàn phá lớn. Theo [10, 11, 21], lũ quét là loại lũ có tốc độ rất lớn (quét), xảy ra bất ngờ (thƣờng xuất hiện vào ban đêm) trên một diện tích nhỏ hay lớn, duy trì trong một thời gian ngắn hay dài (tùy từng trận mƣa lũ), mang nhiều bùn cát, có sức 4 tàn phá lớn. Theo dự án “Điều tra, khảo sát, phân vùng và cảnh báo khả năng xuất hiện lũ quét ở miền núi Việt Nam, Giai đoạn 1 - miền núi Bắc Bộ”, từ năm 2006-2009, đƣa ra khái niệm: “Lũ quét là lũ hình thành do mƣa kết hợp với các tổ hợp bất lợi về điều kiện mặt đệm (địa hình, địa mạo, lớp phủ, .) sinh ra dòng chảy bùn đá trên các sƣờn dốc (lƣu vực sông, suối), dòng chảy lũ truyền rất nhanh gây ra những tàn phá bất ngờ và nghiêm trọng ở khu vực sƣờn núi và dọc sông mà nó tràn qua”.
[9] Như vậy có thể hiểu rằng: Lũ quét là một loại lũ có tốc độ mực nƣớc lên rất nhanh khi một khối lƣợng nƣớc khổng lồ di chuyển nhanh từ địa hình cao xuống thấp. Lũ quét thƣờng xảy ra bất ngờ, duy trì trong một thời gian ngắn (lên nhanh, xuống nhanh), dòng chảy xiết và có sức tàn phá lớn, cuốn theo mọi chƣớng ngại trên dòng chảy tập trung của lƣu vực. Lũ quét đƣợc hình thành khi một khối lƣợng nƣớc khổng lồ đƣợc mang đến bởi những cơn mƣa dông, bão hoặc cũng có thể do một lƣợng lớn băng tuyết trên núi tan chảy một cách đột ngột. Nó cũng có thể đƣợc hình thành khi đập bị vỡ hay xả lũ đập một cách vội vàng với khối lƣợng xả hàng ngàn mét khối/giây (số lƣợng để tạo thành lũ quét còn tùy vào độ rộng và độ dốc của con sông bên dƣới đập).
Phân loại lũ quét - Tổng hợp các dạng lũ quét thƣờng xảy ra, có thể phân loại lũ quét theo 7 dạng chính nhƣ sau: Lũ quét sườn dốc: Cƣờng suất và tốc độ lũ rất lớn. Lũ đến bất thần, tàn phá dạng cuốn trôi nhanh và rút nhanh. Trong dòng lũ chứa ít bùn đá. Lũ phát sinh chủ yếu do mƣa cƣờng độ lớn trên các lƣu vực có khả năng tập trung nƣớc nhanh.
Lũ quét vỡ dòng tự nhiên: Lũ quét vỡ dòng phát sinh do các hồ tự nhiên trong các thung lũng sông miền núi. Đặc trƣng động lực học của lũ là có dạng sóng với tốc độ đặc biệt cao. Lũ quét vỡ dòng nhân tạo: Đặc trƣng của lũ quét vỡ dòng nhân tạo gần giống với lũ quét vỡ dòng tự nhiên. Điểm khác biệt ở trƣờng hợp vỡ dòng nhân tạo là do mƣa lớn kết hợp với sự cố công trình hồ, đập.
Ở Việt Nam đã xảy ra trƣờng hợp vỡ một số hồ, đập thuỷ lợi nhỏ dẫn tới 5 lũ quét ở hạ lƣu. Ví dụ, vỡ các hồ nƣớc kiểu bậc thang tại Đắc Lắc năm 1990 làm chết 22 ngƣời. Lũ quét nghẽn dòng tự nhiên: Đặc trƣng cơ bản của loại lũ này là cƣờng suất tƣơng đối cao, kéo dài (nhiều giờ, thậm chí nhiều ngày). Dạng tàn phá chủ yếu là cuốn trôi và gây ngập.
Khu vực bị cuốn trôi mạnh nhất thƣờng tập trung ở khu đầu vào và khu đầu ra của lũ. Tác nhân chủ yếu dẫn tới nghẽn dòng tự nhiên là cấu trúc địa chất - địa hình đặc thù và mƣa lớn trên diện rộng. Lũ quét nghẽn dòng tự nhiên có thể lặp đi lặp lại nhiều lần trên một khu vực nếu phần thu hẹp không đƣợc mở rộng. Lũ quét nghẽn dòng đột biến: Loại hình lũ quét này đã xảy ra tại thị xã Sơn La năm 1991 và các nơi khác thuộc miền núi phía Bắc.
Lũ có diễn biến tƣơng đối giống với lũ quét nghẽn dòng tự nhiên, song khác biệt ở tác nhân phát sinh và tác hại. Tác nhân chủ yếu là trƣợt lở, sập hang, đất đá gỗ cây lấp cửa hang. Tác hại chủ yếu là mọi thứ sẽ bị cuốn trôi khi vật cản đƣợc giải phóng. Lũ bùn đá: Lũ bùn đá là một dạng của lũ quét, xảy ra nơi có đầy đủ nguồn chất rắn (bùn đá) cấp cho dòng lũ quét.
Nó xuất hiện ở một số sông miền núi, nơi có cƣờng độ mƣa lớn, tập trung, địa hình dốc, cấu tạo địa chất dễ bị sụp lở nhƣ đất hoàng thổ, đất cát pha sét, lớp diệp thạch sét sa thạch và đá vôi dễ gây trƣợt trọng lực. Sau những trận lũ bùn đá, lòng sông bị biến đổi rất lớn. Lũ quét hỗn hợp: Lũ quét hỗn hợp là sự kết hợp cùng một lúc hai hay nhiều loại hình lũ quét khác nhau. Diễn biến và tác hại của lũ quét rất phức tạp và lớn.
Tác nhân gây lũ quét hỗn hợp rất đa dạng. [9] - Dựa vào nguyên nhân hình thành, lũ quét có thể đƣợc phân thành 3 loại, chủ yếu nhƣ sau: Lũ gây ra do mƣa địa phƣơng, tập trung lớn ở các lƣu vực tự nhiên, hầu nhƣ chƣa có tác động của con ngƣời. Lũ gây ra do mƣa lớn trên các lƣu vực đã chịu tác động mạnh của các hoạt động kinh tế của con ngƣời làm mất ổn định hay phá vỡ cân bằng sinh thái lƣu vực nhƣ sự thay đổi lớp phủ, chế độ dòng chảy, lƣợng trữ hay các đặc tính lƣu vực. Lũ gây ra do tháo, vỡ thình lình một lƣợng nƣớc tích do vỡ đập chắn hay các đập giữ nƣớc, các đập băng.
Đặc điểm cơ bản của lũ quét Lũ quét ở khu vực miền núi thƣờng mang một số đặc điểm cơ bản sau: a. Tính bất ngờ: Thời gian từ khi lũ quét xuất hiện đến khi kết thúc diễn biến rất nhanh, khoảng thời gian từ khi xuất hiện đến khi đạt đỉnh lũ thƣờng rất ngắn (thƣờng chỉ từ một giờ đến ba giờ sau khi có mƣa lớn), đặc biệt là đối với loại lũ quét nghẽn dòng có thể gây ra sóng lũ cao đột ngột. Mặt khác, lũ quét thƣờng xảy ra ở vùng núi hiểm trở, việc đi lại đo đạc, thu thập tài liệu khó khăn, do vậy với các phƣơng pháp tính toán, dự báo thông thƣờng khó có thể dự báo một cách có hiệu quả. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật còn hạn chế, con ngƣời thƣờng khó khăn trong dự báo, cảnh báo lũ quét.
Tính ngắn hạn: Lũ quét thƣờng tồn tại trong thời gian ngắn, thƣờng kết thúc sau 10 – 18 giờ, rất ít khi quá 1 ngày, nƣớc lũ lớn xói mòn, rửa trôi khối lƣợng rất lớn vật chất rắn từ các sƣờn núi dốc rồi trở thành dòng bùn – nƣớc – vật rắn tập trung hầu nhƣ đồng thời và rất nhanh. Do đó, tốc độ dòng nƣớc trong lũ quét rất nhanh, khác hẳn lũ thƣờng, lại có đỉnh rất lớn, hơn hẳn đỉnh lũ (có khi gấp 2 – 5 lần) trong điều kiện mƣa tƣơng đƣơng do cơ chế hình thành và vận động khác hẳn. Nhƣ thế, để giảm hoặc loại trừ tính ngắn hạn của lũ quét, các biện pháp phải hƣớng vào kéo dài thời gian lũ lên là chủ yếu và lũ xuống và trên căn bản là hƣớng vào tăng thời gian tập trung dòng lũ ở lƣu vực, từ đó cũng giảm hẳn tính ác liệt của lũ (giảm đỉnh lũ, tần suất lũ lên, xuống, lƣu tốc dòng sông…). Tính đậm đặc: Dòng lũ quét khác hẳn dòng lũ nƣớc thƣờng bởi tỷ lệ vật chất rắn rất lớn.
Trong quá trình hình thành và vận động, tỷ lệ vật rắn trong dòng lũ quét không ngừng tăng lên, tăng mạnh nhất ở khu vực 2 – khi chuyển động từ trên núi cao xuống thung lũng. Lƣợng chất rắn thƣờng chiếm 3 – 10%, thậm chí trên 10% trong dòng lũ để trở thành dạng lũ bùn đá. Để giảm và hạn chế tác động đặc tính này của dòng lũ quét, hoặc ngăn ngừa nguy cơ lũ quét, cần phải có biện pháp nhằm vào giảm xói mòn, sạt, trƣợt, tức là giảm lƣợng vật chất rắn trong lũ, có biện pháp cắt bớt lƣợng vật rắn trong lũ quét, giảm quá trình chuyển động trƣợt. Tính khốc liệt: Do lũ có lƣu lƣợng lớn và dòng chảy xiết, đặc biệt là khi nƣớc lũ tích tụ tạo ra sóng lũ lớn đột ngột nên có thế năng rất lớn, các vật thể rắn chuyển động va đập làm cho lũ quét có sức tàn phá lớn, có thể cuốn đi các công trình, nhà cửa, cây cối và mọi vật cản trên đƣờng chuyển động của nó.