Chương I: Cơ sở lý luận về lãi suất và chính sách lãi suất Lai «A suat 3 13 2 Đường xuất khâu 12 l il NX3 NX2 NXI Xuất khâu ròng Biêu đồ 1.2: Tác động của chính sách lãi suất đên xuát khẩu ròng Nhận thức được mối quan hệ này, NHTW sẽ chủ động thực hiện chính sách lãi suất để thực hiện mục tiêu của mình. Nếu NHTW muốn tăng tổng sản phẩm (GDP) băng cách tăng xuất khẩu ròng thì sẽ tiến hành giảm lãi suất và ngược lại.2 Lạm phat Khi nền kinh tế lạm phát, nếu NHTW điều hành chính sách lãi suất để đảm bảo lãi suất thực dương (hiệu ứng Fisher Quốc tế) thì lúc này trên thị trường lãi suất huy động vốn của ngân hàng tăng. Ngân hàng có khả năng thu hút được nhiều nguồn vốn trong dân cư, trong tổ chức kinh tế vào ngân hàng để tạo nguồn cho vay. Do lãi suất huy động cao, để có thể bù đắp chi phí và có hiệu quả kinh doanh thì lãi suất cho vay cao.
Nhưng khi lãi suất cho vay quá cao, chỉ phí vốn tăng cao, khách hàng và nền kinh tế không chấp nhận được, do đó không khuyến khích tăng trưởng kinh tế, không khuyến khích sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, không tăng khối lượng hàng hóa thì không thể khắc phục tình trạng lạm phát do nguồn cung không đủ cung cấp cho nhu cầu. Trong trường hợp ngược lại, nễu NHTW không duy trì mức lãi suất cao theo mức độ lạm phát mà thực hiện chính sách lãi suất thực âm thì ngân hàng không thể thu hút được vốn để cung ứng vốn cho nền kinh tế. Do đó cần điều hành lãi suất sao cho vừa đảm bảo lãi suất thực đương, phù hợp với mặt bằng chung, vừa kiềm chế được lạm phát. Mức lãi suất phải phù hợp để đảm bảo khuyến khích sản xuất, kinh doanh.phát triển, góp phần tăng trưởng kinh tế và tác động làm giảm lạm phát.3 Tỷ giá Khi các yếu tố khác không đổi thì việc lựa chọn năm giữ nội tệ hay ngoại tệ sẽ do mức lãi suất thực tế của hai đồng tiền này quyết định.
Do đó, nếu trong trường hợp NHTW thực hiện chính sách lãi suất của nội tệ cao hơn lãi suất của ngoại tệ Trang 11 Chuong I: Co sé lý luận về lãi suất và chính sách lãi suất (lãi suất thực), thì sẽ hình thành xu hướng chuyên từ nắm giữ ngoại tệ sang nắm giữ nội tệ. Điều này làm cho nhu cầu đồng nội tệ tăng lên, cầu về đồng ngoại tỆ giảm đi, từ đó giá ngoại tỆ sẽ giảm đi so với nội tệ, hay tỷ giá giảm tới một mức tỷ giá mới mà cung cầu trở nên cân bằng. Khi đó, lãi suất thực tế của ngoại tỆ và nội tệ tương đương nhau (điều kiện ngang bằng lãi suất và không tính tới lạm phát). Khi có ảnh hưởng của lạm phát, mặc dù lãi suất danh nghĩa tăng, nhưng lãi suất thực tế giảm, lúc này ngược lại - nội tệ sẽ giảm giá so với ngoại tệ điều này dẫn tới tỷ giá tăng.
Bên cạnh chính sách lãi suất tác động đến tỷ giá thì khi các yếu tố khác không đổi, tỷ giá cũng tác động ngược lại đến lãi suất. Khi ngoại tệ tăng giá, để tạo cân bằng trên thị trường ngoại hối, NHTW sẽ chủ động tăng lãi suất đồng nội tệ thông qua đây mạnh lượng cung ngoại té ra nên kinh tế đồng thời hút bớt nội tệ về. Điều này làm cho cung cầu ngoại hối trở nên cân bằng. Như vậy, chính sách lãi suất và tỷ giá có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau nhưng biến động của lãi suất (lên cao chẳng hạn) không nhất thiết đưa đến tỷ giá hối đoái biến động theo (hạ xuống chang hạn) bởi vì còn sự tác động của các yếu tố khác.
Chắng hạn, khi NHTW tăng lãi suất thì có thể thu hút vốn ngắn hạn của nước ngoài chạy vào, nhưng khi tình hình chính trị, kinh tế và tiền tệ trong nước không ổn định, thì không nhất thiết thực hiện được, bởi vì với vốn nước ngoài, vấn đề lúc đó lại đặt ra trước tiên là sự đảm bảo an toàn cho số vốn chứ không phải là vấn đề thu hút được nhiều lợi nhuận.4 Chính sách tín dụng Chính sách tín dụng cho nên kinh tế bao hàm việc NHTW cấp tín dụng cho NHTM và kiểm soát hoạt động tín dụng của các NHTM. Việc kiểm soát khối lượng tín dụng có thể được thực hiện bằng công cụ trực tiếp (dùng hạn mức tín dụng) hoặc gián tiếp. Trong đó, hiện nay các NHTW sử dụng công cụ gián tiếp như lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn. là chủ yếu.
Đó cũng là những công cụ của chính sách lãi suất. Do đó, việc điều hành chính sách lãi suất và chính sách tín dụng có quan hệ và phù hợp lẫn nhau. Nêu NHTW muốn hạn chế cấp tín dụng cho NHTM thì sẽ tăng lãi suất và ngược lại, khi tăng lãi suất thì sẽ làm cho nguồn vốn của các NHTM giảm xuống.5 Cung ứng và điều tiết khối lượng tiền NHTVW có thể thực hiện việc cung ứng và điều tiết khối lượng tiền thông qua các kênh như: tái cấp vốn cho các NHTM, hoạt động của NHTW trên thị trường mở.Những kênh này đều chịu ảnh hưởng dưới tác động của chính sách lãi suất. Trong hoạt động tái cấp vốn, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu phải được quy Trang 12 Chuong I: (cơơ SỞ Ey taluận ve lãi suất và €chính sáchA tat sudt định phủ hợp thì việc cung ứng tiền qua NHTM mới phát huy được tác dụng và đạt được mục tiêu mà NHTW đê ra.
Các công cụ của chính sách lãi suất 1.1 Lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khẩu Lãi suất tái cấp vốn là loại lãi suất mà ở đó NHTW áp dụng cho các nghiệp vụ tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng trung gian (bao gồm NHTM) bằng việc cho vay lại các hợp đồng tín dụng. Còn lãi suất chiết khấu là hình thức lãi suất tái cấp vốn được áp dụng khi NHTW chiết khấu thương phiếu và các giây tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán cho các NHTM. Như vậy, lãi suất chiết khâu được xem là lãi suất cho vay ngắn hạn còn lãi suất tái cấp vốn là lãi suất cho vay dài hạn của NHTW. Các công cu nay do NHTW ấn định căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu của chính sách tiền tệ trong từng thời kì và chiều hướng biến động lãi suất trên thị trường.
Sự thay đối của mức lãi suất tái chiết khấu tác động trước hết vào lãi suất đầu vào của NHTM, vì thế các ngân hàng này dẫn tăng (giảm) lãi suất cho vay, do đó làm giảm (tăng) nhu câu tín dụng. Sự thay đổi này được coi là dâu hiệu định hướng thị trường, vi thế nó có hiệu ứng thông báo do có sự trông đợi và dự đoán của thị trường. Khi NHTW thông báo chiều hướng biến động của lãi suất chiết khấu tăng lên (dấu hiệu của chính sách tiền tệ thắt chặt) hoặc giảm xuống (dấu hiệu của chính sách tiền tệ nới lỏng) thì sẽ có tác dụng hướng dẫn hành vi của thị trường. Mỗi công cụ điều hành chính sách lãi suất của NHTW đều có ưu điểm và nhược điểm nhất định.
Về ưu điểm, lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn có tác dụng điều chỉnh tăng giảm lượng tiền cung ứng cho các NHTM, TCTD và từ đó tác động đến nền kinh tế. Đây là công cụ rất tiện dụng cho việc bơm tiền ra lưu thông một cách an toàn và đảm bảo. Hoạt động tái cấp vốn của NHTW đã đóng góp không nhỏ trong việc đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản của các NHTM dé cho vay nên kinh tế. Đồng thời lãi suất chiết khâu còn có vai trò hỗ trợ ngắn hạn, các nhu câu bất thường nhăm hỗ trợ các ngân hàng đảm bảo khả năng thanh toán, góp phan 6n định hệ thống NHTM.
Bên cạnh đó, các khoản cho vay của NHTW được đảm bảo băng các giấy tờ có giá, tạo ra kênh cung ứng tín dụng có sự kiểm soát của NHTW, không cung ứng tràn lan, qua đó NHTW có thể kiểm soát lạm phát. Tùy theo từng giai đoạn và yêu cầu của việc thực hiện chính sách tiền tệ, cần thực hiện chính sách nới lỏng hay thắt chặt tín dụng mà NHTW quy định mức lãi suất thấp hay cao. Lãi suất chiết khấu trong từng thời kì sẽ có tác dụng hướng dẫn, chỉ đạo ea suat tin dung trong nén kinh te cua thời ki đó. Khi NỔ VIV tăng lãi suất — ———— ve apices Yue CAMA AED ae — ere Pn (PS AT rN — — tÌrtxzsxv#0i a) —— wae ee ———— ssrani at.
3% oe ans tr: — —— Trang 13 Chương l: Cơ sở lý luận về lãi suát và chính sách lãi suát chiết khâu sẽ tác động làm cho lãi suất cho vay của các NHTM, TCTD tăng. Từ đó giới hạn khả năng cho vay của các NHTM, TCTD. Mức cung ứng tiền tệ cũng sẽ bị giảm đi. Khi NHTW giảm lãi suất chiết khấu sẽ tác động làm giảm lãi suất cho vay của các NHTM, TCTD.
Từ đó làm tăng khả năng cho vay của các NHTM, TCTD, qui mô tín dụng tăng lên, tiền cung ứng ra lưu thông nhiều hơn. Tuy nhiên, lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn lại mang tính thụ động vì NHTW chỉ có thể khuyến khích chứ không bắt buộc các NHTM vay vốn của mình theo mục tiêu đã để ra. Hơn nữa, các công cụ này khó đảo ngược tình thế do hiệu ứng thông báo chỉ phát huy tác dụng khi lãi suất chiết khâu phù hợp với mức lãi suất trên thị trường. Một hạn chế nữa của công cụ này là hoạt động tái cấp vôn chỉ mới dừng lại ở mục đích bỗ sung nguồn vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các tô chức tin dụng.
Hiệu lực can thiệp của công cụ này đến thị trường tiền tệ chưa cao và mối liên hệ giữa công cụ tái cấp vốn và tổng phương tiện thanh toán chưa rõ ràng. Các chức năng nhằm điều chỉnh quá trình phát triển kinh tế về quy mô và cơ câu đầu tư dựa trên sự cấp vốn theo thời gian, theo lĩnh vực ngành kinh tê, theo từng vùng lãnh thổ vẫn chưa được phát huy.2 Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản được hình thành khác nhau tùy từng nước, nó có thé do NHTW ấn định.