CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG 1. Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1. Khái niệm Cụm từ “trách nhiệm xã hội” xuất hiện đầu tiên những năm 1930-1940. Bowen là người đầu tiên đưa ra định nghĩa về CSR vào năm 1953.
Theo Bowen (1953): CSR đề cập đến các nghĩa vụ của doanh nghiệp để theo đuổi những chính sách, đưa ra những quyết định hoặc hành động để đạt được mục tiêu và tạo ra giá trị cho xã hội. Frederick (1960) một trong những người có ảnh hưởng trong lĩnh vực nghiên cứu, cũng đã ủng hộ quan điểm của Bowen, ông tin rằng, các doanh nghiệp nên quản lý hoạt động kinh doanh của mình để đáp ứng mong đợi của công chúng và cải thiện phúc lợi kinh tế xã hội. McGuire (1963) nói rằng: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không chỉ là trách nhiệm về kinh tế và pháp lý mà còn có những trách nhiệm nhất định đối với xã hội vượt quá các trách nhiệm này. McGuire thuộc là một trong những người đầu tiên cho rằng CSR cũng vượt ra ngoài các yêu cầu kinh tế và pháp lý (Carroll, 1979).
Thập niên 1970 được cho là khoảng thời gian bùng nổ của CSR các định nghĩa về CSR. Friedman (1970) cho rằng: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận một cách hợp pháp và có đạo đức, điều này có nghĩa là trọng tâm chính vẫn là lợi ích của các cổ đông. Trái ngược với quan điểm trên, Johnson (1971) định nghĩa rằng CSR là doanh nghiệp cần phải biết cân bằng nhiều lợi ích. Thay vì phấn đấu chỉ vì lợi nhuận lớn hơn cho cổ đông thì doanh nghiệp chịu trách nhiệm cũng tính đến lợi ích của nhân viên, nhà cung cấp, đại lý, cộng đồng địa phương và quốc gia.
Vào năm 1975, Sethi là người đầu tiên phân loại CSR thành ba loại: nghĩa vụ xã hội, trách nhiệm xã hội, đáp ứng xã hội và tám khía cạnh khác nhau: tính hợp pháp, đạo đức/chuẩn mực, trách nhiệm xã hội cho hành động của công ty, chiến lược kinh doanh, ứng phó với áp lực xã hội, các hoạt động liên quan đến chính phủ, chính trị và từ thiện. Một trong những nhà nghiên cứu nổi tiếng Carroll (1979) định nghĩa CSR bao gồm các yếu tố kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện. Sự khác biệt giữa định nghĩa CSR của Carroll (1979) và các định nghĩa khác: Carroll cho rằng có thể tồn tại cả định hướng kinh tế và xã hội cùng một lúc. Năm 1991, Carroll đã xây dựng kim tự tháp CSR dựa vào bốn thành phần của CSR mà Carroll đã định nghĩa trước đó.
8 Luan van Hình 1.1 Tháp trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Nguồn: Carroll, 1991) Trách nhiệm kinh tế: biểu thị trách nhiệm xã hội cơ bản của doanh nghiệp, là nền tảng cho các trách nhiệm khác. Trách nhiệm này bao gồm việc sản xuất và bán hàng hóa, tạo ra lợi nhuận và theo đuổi sự tăng trưởng đó. Trách nhiệm pháp lý: doanh nghiệp cần tuân thủ pháp luật của đất nước, địa phương nơi doanh nghiệp đang hoạt động. Đây là yếu tố tối thiểu cần có để doanh nghiệp tiếp tục hoạt động.
Trách nhiệm đạo đức: doanh nghiệp thực hiện các hành vi đúng đắn, công bằng mà xã hội mong đợi nhưng không được quy định trong luật pháp, thường được thể hiện thông qua những nguyên tắc và giá trị đạo đức. Trách nhiệm từ thiện: là những mong muốn đóng góp cho cộng đồng, xã hội để nâng cao chất lượng cuộc sống, san sẻ bớt gánh nặng cho chính phủ, phát triển nhân cách đạo đức con người. Trách nhiệm đạo đức và từ thiện được đặt lên trên cùng, là hai yếu tố giúp công ty có thể phát triển một cách bền vững Sau định nghĩa của Carroll, một số học giả đã phân loại CSR gồm đạo đức, vị tha và chiến lược Lantos (2001); nghĩa vụ đạo đức, tính bền vững, giấy phép hoạt động và danh tiếng (Porter và Kramer, 2006); quan hệ nhân viên, quan hệ cộng đồng, đa dạng, sản phẩm và các vấn đề môi trường (Melo và Morgado, 2012). Năm 2011, Ủy ban Châu Âu định nghĩa “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tác động của doanh nghiệp đối với xã hội”.
9 Luan van Các yếu tố tác động bao gồm: sự tích hợp xã hội, các vấn đề về môi trường, đạo đức, nhân quyền và mối quan tâm của người tiêu dùng vào hoạt động kinh doanh và chiến lược cốt lõi của doanh nghiệp (Ủy ban Châu Âu, 2011). CSR được các nhà học thuật xây dựng từ trước thế chiến thứ hai và được phát triển rộng rãi vào thập niên 60 của thế kỷ trước. Cuối cùng người ta thấy rằng hầu hết các doanh nghiệp phát triển trường tồn đều có ý thức và hành động vì xã hội. Tháp Caroll (Caroll Pyramid) là nền tảng lý thuyết cho CSR mà cho đến nay thực tiễn đã chứng minh một cách sinh động.
Theo đó giáo sư Archie B. Caroll, một bậc thầy về quản trị doanh nghiệp tại đại học Georgia (Hoa Kỳ), cho rằng: một doanh nghiệp trường tồn và trở thành vĩ đại dựa trên tòa tháp trách nhiệm xã hội, bao gồm: Trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh của công ty; Trách nhiệm về tuân thủ luật pháp; Trách nhiệm về đạo đức; và Các công việc thiện nguyện. Theo lý thuyết tháp Caroll (1991), xã hội luôn đòi hỏi doanh nghiệp làm nhiều hơn so với việc chỉ tạo lợi nhuận và tuân thủ pháp luật. Vlachos, 2012 cho rằng có rất nhiều quan điểm lý thuyết và định nghĩa về CR nhưng định nghĩa được trích dẫn nhiều nhất là định nghĩa của Carroll (1979), bởi vì định nghĩa này mang tính toàn diện, có thể tồn tại cả hai định hướng kinh tế và xã hội.
Ở Việt Nam, CSR là vấn đề còn khá mới mẻ. Việc hiểu và thực hiện CSR còn nhiều hạn chế, đa số các doanh nghiệp cho rằng thực hiện CSR là làm từ thiện (Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức, 2008). Thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp né tránh việc thực hiện CSR vì cho rằng CSR làm gia tăng chi phí, làm giảm lợi nhuận. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của CSR và thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của mình.
Những thành tố của trách nhiệm xã hội Các thành tố của trách nhiệm xã hội Nhiều lãnh đạo của doanh nghiệp cho rằng, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tham gia vào các chương trình trợ giúp các đối tượng xã hội như hỗ trợ người tàn tật, trẻ em mồ côi, xây dựng nhà tình nghĩa, ủng hộ đồng bào lũ lụt và thiên tai. Điều đó là đúng nhưng hoàn toàn chưa đủ, mặc dù các hoạt động xã hội là một phần quan trọng trong trách nhiệm của một công ty. Quan trọng hơn, một doanh nghiệp phải dự đoán được và đo lường được những tác động về xã hội và môi trường hoạt động của doanh nghiệp và phát triển những chính sách làm giảm bớt những tác động tiêu cực (Nguyễn Hoàng Khởi và Dương Ngọc Thành, 2019). 10 Luan van Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn là cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, hợp tác cùng người lao động, gia đình họ, cộng đồng và xã hội nói chung để cải thiện chất lượng cuộc sống cho họ sao cho vừa tốt cho doanh nghiệp vừa ích lợi cho phát triển.
Nếu doanh nghiệp sản xuất xe hơi, phải tính toán được ngay cả năng lượng mà cơ sở tiêu thụ và tìm cách cải thiện nó. Và là doanh nghiệp sản xuất giấy, phải xem chất thải ra bao nhiêu và tìm cách xử lý nó…(Phạm Văn Đức, 2010). Vì vậy ngày nay một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội liên quan đến mọi thành tố vận hành của một doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội bao gồm 4 thành tố: kinh tế, pháp lý, đạo đức và lòng bác ái.
Thành tố kinh tế Thành tố kinh tế trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là phải sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà xã hội cần và muốn với một mức giá có thể duy trì doanh nghiệp ấy và làm thỏa mãn nghĩa vụ của doanh nghiệp với các nhà đầu tư; là tìm kiếm nguồn cung ứng lao động, phát hiện những nguồn tài nguyên mới, thúc đẩy tiến bộ công nghệ, phát triển sản phẩm; là phân phối các nguồn sản xuất như hàng hoá và dịch vụ như thế nào trong hệ thống xã hội (Lê Thanh Hà, 2009). Trong khi thực hiện các công việc này, các doanh nghiệp thực sự góp phần vào tăng thêm phúc lợi cho xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đối với người lao động, thành tố kinh tế của doanh nghiệp là tạo công ăn việc làm với mức thù lao xứng đáng cơ hội việc làm như nhau, cơ hội phát triển nghề và chuyên môn, hưởng thù lao tương xứng, hưởng môi trường lao động an toàn, vệ sinh và đảm bảo quyền riêng tư, cá nhân ở nơi làm việc. Đối với người tiêu dùng, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp là cung cấp hàng hoá và dịch vụ, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp còn liên quan đến vấn đề về chất lượng, an toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản phẩm (quảng cáo), phân phối, bán hàng và cạnh tranh (Vũ Công Tráng, 2019).
Thành tố kinh tế trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là cơ sở cho các hoạt động của doanh nghiệp. Phần lớn các nghĩa vụ kinh tế trong kinh doanh đều được thể chế hoá thành các nghĩa vụ pháp lý. Thành tố pháp lý Thành tố pháp lý trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ những quy định về pháp lý chính thức đối với các bên hữu quan. 11 Luan van Những điều luật như thế này sẽ điều tiết được cạnh tranh, bảo vệ khách hàng, bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự công bằng và an toàn và cung cấp những sáng kiến chống lại những hành vi sai trái.
Các nghĩa vụ pháp lý được thể hiện trong luật dân sự và hình sự. Về cơ bản, nghĩa vụ pháp lý bao gồm năm thành tố: (1) Điều tiết cạnh tranh (2) Bảo vệ người tiêu dùng (3) Bảo vệ môi trường (4) An toàn và bình đẳng (5) Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái. Thông qua trách nhiệm pháp lý, xã hội buộc các thành viên phải thực thi các hành vi được chấp nhận. Các tổ chức không thể tồn tại lâu dài nếu họ không thực hiện trách nhiệm pháp lý của mình (Vũ Công Tráng, 2019).