Luận án vai trò của nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay

Chuyên khảo kinh tế phân tích Luận án vai trò của nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2023

174
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Các công trình nghiên cứu về kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái

1.2. Các công trình nghiên cứu về vai trò của nhà nước trong tăng trưởng kinh tế và vai trò của nhà nước trong bảo vệ môi trường sinh thái

2. CHƯƠNG 2: KẾT HỢP TĂNG TRƯỞNG TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI - YÊU CẦU CỦA SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG SỰ KẾT HỢP ĐÓ

2.1. Kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái - yêu cầu của sự phát triển bền vững

2.2. Vai trò của Nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái

3. CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG KẾT HỢP TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Mâu thuẫn của việc đòi hỏi cần phải có tính đồng bộ về chính sách, chiến lược, pháp luật trong kết hợp tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái, với tình trạng còn thiếu, chưa đồng bộ

3.2. Mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc kết hợp tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái, với hiệu quả thực tế còn bất cập, nhiều hạn chế

3.3. Mâu thuẫn của việc đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước cùng các tổ chức, các lực lượng xã hội trong kết hợp tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái, với tình trạng phối hợp còn lỏng lẻo, chưa chặt chẽ

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG KẾT HỢP TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng hệ thống chính sách, chiến lược, pháp luật của nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái

4.2. Nhóm giải pháp nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái

4.3. Nhóm giải pháp nâng cao vai trò của nhà nước trong việc tạo ra sự đồng thuận của toàn xã hội nhằm thực hiện tốt việc kết hợp tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Vai trò của Nhà nước trong tăng trưởng kinh tế

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc định hình chính sách kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Các chính sách kinh tế cần được thiết kế để không chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế mà còn phải đảm bảo bảo vệ môi trường. Việc quản lý tài nguyên hiệu quả là một trong những nhiệm vụ chính của Nhà nước. Điều này bao gồm việc xây dựng các quy định và luật pháp nhằm kiểm soát việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Theo đó, Nhà nước cần phải có những biện pháp mạnh mẽ để khuyến khích đầu tư công vào các lĩnh vực thân thiện với môi trường, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp trong việc áp dụng công nghệ sạch và bền vững. Một trong những mục tiêu chính của Nhà nước là tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi, khuyến khích đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế xanh. Điều này không chỉ giúp tăng trưởng kinh tế mà còn bảo vệ môi trường sinh thái.

1.1. Chính sách phát triển bền vững

Chính sách phát triển bền vững là một trong những ưu tiên hàng đầu của Nhà nước. Điều này bao gồm việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường. Nhà nước cần phải xây dựng các chính sách môi trường rõ ràng, nhằm đảm bảo rằng mọi hoạt động kinh tế đều phải tuân thủ các tiêu chuẩn về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Việc này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển bền vững. Các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trong việc áp dụng công nghệ sạch và phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường cũng cần được triển khai. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả tổ chứcquản lý môi trường, đồng thời tạo ra một nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế trong tương lai.

II. Quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Quản lý tài nguyên hiệu quả là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường. Nhà nước cần phải thiết lập các quy định và chính sách nhằm kiểm soát việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Việc này không chỉ giúp bảo vệ môi trường sinh thái mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững cho các thế hệ tương lai. Các chương trình quy hoạch đô thịquản lý môi trường cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả. Nhà nước cũng cần phải tăng cường giám sátkiểm tra việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường. Điều này sẽ giúp phát hiện kịp thời các vi phạm và xử lý nghiêm minh, từ đó nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường.

2.1. Chính sách bảo vệ môi trường

Chính sách bảo vệ môi trường cần được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc phát triển bền vững. Nhà nước cần phải có các chính sách môi trường rõ ràng, nhằm đảm bảo rằng mọi hoạt động kinh tế đều phải tuân thủ các tiêu chuẩn về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Việc này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển bền vững. Các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trong việc áp dụng công nghệ sạch và phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường cũng cần được triển khai. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả tổ chứcquản lý môi trường, đồng thời tạo ra một nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế trong tương lai.

III. Thách thức và giải pháp

Việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường đang đối mặt với nhiều thách thức. Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu đồng bộ trong chính sáchpháp luật. Nhiều quy định hiện hành chưa đủ mạnh để xử lý các vi phạm về bảo vệ môi trường. Nhà nước cần phải cải cách hành chính và nâng cao hiệu lực quản lý để giải quyết vấn đề này. Các giải pháp cần thiết bao gồm việc tăng cường hợp tác công tư trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường. Việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường cũng là một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện các chính sách này.

3.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý

Để nâng cao hiệu quả quản lý trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, Nhà nước cần phải thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần phải cải cách hệ thống pháp luật để đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả trong việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường. Thứ hai, cần phải tăng cường giám sátkiểm tra việc thực hiện các quy định này. Cuối cùng, Nhà nước cần phải khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường thông qua các chương trình hỗ trợkhuyến khích.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KẾT HỢP TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI 1. Các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là chủ đề được bàn luận khá nhiều trong thời gian qua dưới các góc độ kinh tế, xã hội, môi trường… Trên khía cạnh kinh tế học, khái niệm TTKT thường được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau: TTKT là mức tăng sản lượng thực tế (sản phẩm hàng hóa, dịch vụ) của một quốc gia theo một thời gian nhất định [58]; TTKT là mở rộng quy mô sản xuất sản xuất quốc gia, tiềm năng của một nước, tiềm năng hiện thực: việc mở rộng khả năng kinh tế để sản xuất [146]; TTKT là sự tăng lên của sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong một nước do sự tăng lên của thu nhập quốc dân và sản phẩm bình quân đầu người [132]; TTKT là một khái niệm kinh tế học được dùng để chỉ sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời gian nhất định. Các chỉ tiêu để đánh giá TTKT thường được sử dụng là tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), GDP và GNP bình quân đầu người cùng một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác [127], [144].

Đi sâu hơn nữa về TTKT, nhiều công trình đã có những luận chứng sâu sắc về quá trình TTKT ở Việt Nam, qua đó đề ra các giải pháp giúp nâng cao tốc độ tăng trưởng cho nền kinh tế ở nước ta, tiêu biểu như các công trình sau: Trong công trình “Các mô hình tăng trưởng kinh tế” của tác giả Trần Thọ Đạt [57] và “Mô hình tăng trưởng kinh tế” của tác giả Trần Văn Tùng [147] đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về các mô hình TTKT trên thế giới như: Mô hình tăng trưởng trường phái Keynes, Harrod Domar, tăng trưởng tân cổ điển mở rộng, tăng trưởng nội sinh. Các nghiên cứu này còn chỉ rõ những nội dung cơ bản của các lý thuyết TTKT, lý thuyết TTKT dưới dạng các mô hình 7 toán học và tập trung phân tích quá trình tăng trưởng ở các khu vực, các quốc gia trên thế giới và ở nước ta hiện nay. Về mô hình TTKT ở nước ta hiện nay, các nghiên cứu đều khẳng định cho đến nay mô hình TTKT trong nước vẫn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào tăng quy mô tài sản cố định và khai thác TNTN là chính. Mô hình này, ở phương diện tích cực đã đem lại nhiều lợi thế để kinh tế đất nước tăng trưởng với tốc độ nhanh, song, mô hình kinh tế đó còn để lại nhiều hạn chế, trong đó có hạn chế lớn nhất là làm cho kinh tế tăng trưởng chưa thật sự bền vững.

Bài viết “Về chất lượng phát triển của Việt Nam thời kỳ 2000 - 2010”, được biên soạn theo tài liệu của các cơ quan Trung ương, Tạp chí Lý luận chính trị [148] đã khẳng định, “trong thời kỳ chiến lược 2001 - 2010, nước ta đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định, ước tính tăng trưởng GDP đạt khoảng 7,2%/năm. Việt Nam tiếp tục giữ vị trí là một trong những nước có sự tăng trưởng nhanh so với các nước trong khu vực và trên thế giới” [148, tr.48], “tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh có ý nghĩa rất quan trọng giúp nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển và bước vào thời kỳ mới, gia nhập nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình” [148, tr. Tuy nhiên, bài báo cũng khẳng định, nền kinh tế trong nước vẫn kéo dài tình trạng tăng trưởng chủ yếu vào các yếu tố phát triển theo theo chiều rộng. TTKT trong những năm qua nghiêng nhiều về yếu tố vốn hơn là yếu tố lao động.

Bên cạnh đó, mức tiêu hao năng lượng ở nước ta còn khá cao, năng lực cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế thấp; đặc biệt những hạn chế về lĩnh vực xã hội còn nhiều: chẳng hạn thành tựu xóa đói, giảm nghèo chưa vững chắc, bất bình đẳng có xu hướng gia tăng giữa các vùng và các tầng lớp dân cư, tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng, việc “quản lý, bảo vệ tài nguyên còn buông lỏng; một số tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là những tài nguyên không có khả năng tái tạo đang bị khai thác với công nghệ lạc hậu, gây lãng phí và đứng trước nguy cơ cạn kiệt” [148, tr. Tác giả Nguyễn Thị Doan trong bài viết “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta” [44] cho rằng, trong 8 những năm đổi mới, “so với các quốc gia, nước ta đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và liên tục. Cùng với tăng trưởng kinh tế cao, chất lượng tăng trưởng kinh tế cũng đang được cải thiện” [44, tr. Tuy nhiên, tác giả cũng nhấn mạnh, “tăng trưởng kinh tế của nước ta chủ yếu vẫn theo bề rộng, dựa vào tăng quy mô tài sản cố định, tài nguyên thô và số lượng lao động; cơ cấu kinh tế kém hiệu quả, năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh thấp; các cân đối vĩ mô của nền kinh tế chưa thật vững chắc” [44, tr.

Do đó, Việt Nam cần phải thay đổi mô hình TTKT từ tăng trưởng theo bề rộng là chủ yếu sang tăng trưởng bền vững theo chiều sâu, TTKT phải dựa trên nền tảng coi trọng chất lượng. Về lâu dài, cần triệt để chuyển từ tăng trưởng nhờ tăng quy mô vốn đầu tư, khai thác TNTN và sức lao động sang tăng trưởng dựa vào tri thức và công nghệ, giảm các ngành tiêu hao nhiều năng lượng, TNTN, tăng các ngành sử dụng năng lượng sinh học, năng lượng gió. Bên cạnh đó, cần có các giải pháp chiến lược như đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa lớn; GD, ĐT nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển KH và CN để KH, CN trở thành động lực phát triển đất nước, cần mạnh dạn đổi mới tư duy trong quản lý, điều hành, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước; tăng cường giám sát, kiểm tra việc sử dụng vốn của Nhà nước và xử lý dứt điểm các kết luận sau thanh tra, kiểm tra. Nghiên cứu dưới góc độ tăng trưởng bền vững, các tác giả Hoàng Đức Thân, Đinh Quang Ty trong cuốn sách “Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam” [127]; tác giả Nguyễn Phú Trọng trong cuốn “Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” [144] đã đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa TTKT với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như mối quan hệ giữa TTKT với tiến bộ, công bằng xã hội, mối quan hệ giữa TTKT với phát triển văn hoá, mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng XHCN, mối quan hệ giữa TTKT với bảo vệ MT.

Các tác giả cho rằng, đó là những mối quan hệ cơ bản, phức tạp, có liên quan đến sự tồn vong của quốc gia dân tộc, đòi 9 hỏi Nhà nước ta phải có những biện pháp để giải quyết thỏa đáng. Trong nội dung về mối quan hệ giữa TTKT và bảo vệ MT, các tác giả khẳng định, ở nước ta, kể từ khi đổi mới, kinh tế có sự tăng trưởng khá, song vấn đề MT lại ngày một xuống cấp. Nhà nước cần phải có những chính sách, chiến lược hợp lý để giải quyết dứt điểm tình trạng này. Các tác giả Nguyễn Văn Nam, Trần Thọ Đạt trong nghiên cứu “Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” [102] đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tốc độ, chất lượng TTKT ở Việt Nam.

Qua việc phân tích thực trạng, chất lượng TTKT ở nước ta giai đoạn cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI, các tác giả cho rằng, những yếu tố thể hiện chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế nước ta là: tổng giá trị sản xuất, tổng sản phẩm quốc nội, tổng thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người và một số các tiêu chí định tính khác như: xóa đói giảm nghèo, phúc lợi xã hội, công bằng xã hội, môi trường môi sinh. Cũng trong cuốn sách này, các tác giả đã chỉ ra và phân tích những giải pháp cơ bản để thúc đẩy kinh tế Việt Nam tăng trưởng đạt chất lượng và hiệu quả cao. Như vậy, qua nghiên cứu một số công trình khoa học về TTKT, cho thấy, nhìn chung, các nghiên cứu đều tập trung làm rõ nội hàm của khái niệm TTKT, chỉ ra các mô hình TTKT khác nhau trên thế giới và mô hình kinh tế mà Việt Nam đang theo đuổi. Các nghiên cứu còn làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô TTKT trên thế giới và ở Việt Nam, vạch ra các giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy quá trình TTKT ở nước ta giai đoạn CNH, HĐH đất nước.

Các nghiên cứu về môi trường sinh thái, về bảo vệ môi trường sinh thái Môi trường sinh thái là một trong những vấn đề được đề cập đến khá nhiều trong thời gian qua ở nước ta trên các bình diện khác nhau. Dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ MTST. Nhằm bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng, đảm bảo quyền con người 10 được sống trong MT trong, sạch, đẹp, phục vụ sự nghiệp PTBV đất nước, Đảng và Nhà nước đã ra nhiều văn bản luật, dưới luật, các chỉ thị, nghị quyết về MTST và bảo vệ MTST. Trong một loạt các văn bản quy phạm pháp luật như “Luật Bảo vệ môi trường và văn bản hướng dẫn thi hành”; “ Luật Bảo vệ môi trường năm 2005”; “Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia”… Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định nhiều nội dung quan trọng về MTST cũng như bảo vệ MTST.

Theo đó, bảo vệ MTST được quan niệm là bảo vệ các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và các giống loài động thực vật. Thực chất của bảo vệ MTST là bảo vệ MT nước, MT không khí, bảo vệ TNTN, bảo tồn đa dạng sinh học… [20], [27], [31], [33], [111], [113], [105]. Tác giả Nguyễn Minh Hằng trong bài viết “Môi trường sinh thái - vấn đề của mọi người” [62] khẳng định, MTST là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Luận án về vai trò của nhà nước trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam" tập trung vào việc phân tích vai trò của nhà nước trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững đồng thời bảo vệ môi trường. Tác giả đã chỉ ra rằng, để đạt được sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, nhà nước cần có những chính sách và biện pháp quản lý hiệu quả. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường mà còn đưa ra những khuyến nghị thiết thực cho các nhà hoạch định chính sách.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Luận văn về quản lý nhà nước trong giáo dục và đào tạo tại Việt Nam giai đoạn hiện nay, nơi thảo luận về vai trò của nhà nước trong giáo dục, một lĩnh vực cũng cần sự quản lý chặt chẽ để phát triển bền vững. Bên cạnh đó, Luận văn về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch tại tỉnh Ninh Bình sẽ cung cấp cái nhìn về cách nhà nước quản lý một ngành kinh tế quan trọng khác, có liên quan đến bảo vệ môi trường. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại Quảng Nam cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của nhà nước trong việc phát triển hạ tầng, một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.