Tổng quan luận án

Vấn đề kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái là đòi hỏi tất yếu của quá trình phát triển bền vững trong thế kỷ XXI. Tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu, suy thoái tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường sinh thái đã và đang làm thay đổi sâu sắc các hệ sinh thái, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình tăng trưởng kinh tế và đe dọa an ninh môi trường, an ninh lương thực. Tại Việt Nam, việc duy trì trong thời gian dài mô hình phát triển theo chiều rộng dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên thiên nhiên đã khiến chất lượng môi trường sinh thái suy giảm nhanh chóng, nhiều nguồn tài nguyên bị suy kiệt. Nhằm khắc phục hạn chế này, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã chủ trương đổi mới mô hình phát triển toàn diện, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, hiệu quả quản lý, khai thác tài nguyên chưa cao, môi trường nhiều nơi tiếp tục xuống cấp do hệ thống thể chế, chính sách chưa đồng bộ và năng lực quản lý nhà nước còn bất cập. Xuất phát từ thực tế đó, luận án xác định khoảng trống nghiên cứu về vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái dưới góc độ triết học nhằm cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác quản lý phát triển đất nước.

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở làm rõ những nội dung cơ bản về vai trò của Nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái, luận án phân tích những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao vai trò của Nhà nước Việt Nam, từ đó đề xuất một số nhóm giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của Nhà nước trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Luận án thực hiện 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:

  1. Làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái và những nội dung cơ bản thể hiện vai trò của Nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái.
  2. Phân tích, đánh giá những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao vai trò của Nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam.
  3. Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của Nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của Nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tiếp cận vấn đề dưới góc độ triết học, thông qua chức năng xã hội của Nhà nước với tư cách là một nhân tố quan trọng thuộc kiến trúc thượng tầng; phạm vi không gian là Việt Nam và phạm vi thời gian tập trung từ năm 1996 đến nay (thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được cấu trúc thành hai mảng nghiên cứu chính:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái:

  • Về tăng trưởng kinh tế: Các tác giả Trần Thọ Đạt (năm 2008), Trần Văn Tùng (năm 2005) đã hệ thống hóa các lý thuyết tăng trưởng trường phái Keynes, Harrod - Domar, tân cổ điển mở rộng và tăng trưởng nội sinh. Tạp chí Lý luận chính trị (năm 2011) công bố tài liệu về chất lượng phát triển giai đoạn 2000 - 2010, ghi nhận mức tăng trưởng GDP bình quân ước tính đạt khoảng 7,2%/năm nhưng chỉ ra điểm nghẽn tiêu hao năng lượng cao và khai thác tài nguyên lãng phí. Nguyễn Thị Doan (năm 2011) phân tích hạn chế của mô hình tăng trưởng theo bề rộng và đề xuất chuyển dịch sang mô hình dựa vào tri thức, công nghệ. Hoàng Đức Thân và Đinh Quang Ty (năm 2009), Nguyễn Phú Trọng (năm 2011) đi sâu luận giải các mối quan hệ lớn giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt (năm 2006) nghiên cứu các tiêu chí định tính và định lượng đo lường tốc độ, chất lượng tăng trưởng kinh tế.
  • Về môi trường sinh thái và bảo vệ môi trường sinh thái: Phạm Thị Ngọc Trầm (năm 1997, 2001, 2003, 2014) tiếp cận môi trường sinh thái từ góc nhìn triết học - xã hội, coi đây là môi trường sinh thái - nhân văn và quan hệ giữa con người - tự nhiên - xã hội. Nguyễn Minh Hằng (năm 1999) nhấn mạnh tính chỉnh thể của các yếu tố đất, nước, không khí. Nguyễn Văn Kim (năm 2001) rút ra kinh nghiệm phát triển hài hòa từ Nhật Bản. Đỗ Huy (năm 2001), Phan Thị Hồng Duyên (năm 2011), Vũ Trọng Dung (năm 2008) phân tích sự cần thiết của giáo dục đạo đức sinh thái. Nguyễn Danh Sơn (năm 2011) bàn về mô hình phát triển xanh trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
  • Về kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái: Các chiến lược phát triển quốc gia được Chính phủ ban hành (Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và 2020; Chiến lược tài nguyên nước đến năm 2020; Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn 2030; Chiến lược biến đổi khí hậu; Chiến lược phát triển bền vững 2011 - 2020; Chiến lược tăng trưởng xanh). Các tác giả Nguyễn Đình Hòa (năm 2003), Trần Đắc Hiến (năm 2008), Chu Thái Thành (năm 2004) xem xét mối liên hệ giữa bảo vệ môi trường với công nghiệp hóa nông nghiệp và quy hoạch sản xuất. Công trình luận án kinh tế học của Trương Mạnh Tiến (năm 2000) nghiên cứu tác động của thương mại tự do tới môi trường sinh thái; luận án triết học của Bùi Văn Dũng (năm 2003) phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền.

Thứ hai, các công trình nghiên cứu về vai trò của Nhà nước:

  • Vai trò của Nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế: Nguyễn Văn Hậu (năm 2011), Lê Thị Hồng (năm 2009), Mai Lan Hương (năm 2010), Trần Thị Thu Hường (năm 2011), Ngô Quang Minh (năm 2007), Lương Xuân Quỳ và Đỗ Đức Bình (năm 2005), Trần Thành (năm 2002), Lê Nguyễn Hương Trinh (năm 2007) phân tích vai trò kiến tạo hành lang pháp lý, quản lý kinh tế vĩ mô và định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Vai trò của Nhà nước trong bảo vệ môi trường sinh thái: Lê Thị Thanh Hà (năm 2006, 2008), Nguyễn Thị Ngọc Lan (năm 2005), Trần Thanh Lâm (năm 2003, 2006), Phạm Hữu Nghị (năm 2005), Hoàng Hữu Bình (năm 2006), Nguyễn Thị Thơm và An Như Hải (năm 2007), Phạm Thị Ngọc Trầm (năm 2014) làm rõ vị trí của Nhà nước với tư cách là chủ đại diện sở hữu toàn dân về tài nguyên và giữ thẩm quyền cao nhất trong kiểm tra, giám sát môi trường.
Nhóm hướng nghiên cứu Các tác giả tiêu biểu Trọng tâm nội dung đã giải quyết
Tăng trưởng kinh tế và chất lượng tăng trưởng Trần Thọ Đạt, Trần Văn Tùng, Nguyễn Thị Doan, Nguyễn Văn Nam, Hoàng Đức Thân, Đinh Quang Ty Mô hình tăng trưởng, các nhân tố ảnh hưởng và yêu cầu chuyển đổi từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu
Môi trường sinh thái và đạo đức sinh thái Phạm Thị Ngọc Trầm, Đỗ Huy, Vũ Trọng Dung, Phan Thị Hồng Duyên, Nguyễn Danh Sơn Tiếp cận triết học - xã hội về môi trường sinh thái nhân văn, biến đổi khí hậu và giáo dục ý thức đạo đức sinh thái
Kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường Bùi Văn Dũng, Trương Mạnh Tiến, Chu Thái Thành, Nguyễn Đình Hòa, Trần Đắc Hiến Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường bền vững, phân tích tác động của thương mại tự do
Vai trò của Nhà nước đối với kinh tế và môi trường Nguyễn Phú Trọng, Lê Thị Hồng, Mai Lan Hương, Lê Thị Thanh Hà, Phạm Hữu Nghị, Trần Thanh Lâm Chức năng quản lý kinh tế thị trường, thể chế sở hữu toàn dân về tài nguyên và công cụ quản lý nhà nước về môi trường

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây xem xét tách rời vai trò của Nhà nước trong tăng trưởng kinh tế hoặc vai trò của Nhà nước trong bảo vệ môi trường sinh thái; hoặc chỉ phân tích mối quan hệ này thuần túy dưới góc độ kinh tế học hoặc luật học. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp đồng thời giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái dưới giác độ triết học xã hội và phương pháp luận duy vật lịch sử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Luận án vận dụng quan điểm của C. Mác về vai trò của sản xuất vật chất như là tiền đề đầu tiên của lịch sử nhân loại, mối quan hệ hữu cơ giữa con người với tự nhiên thông qua hoạt động thực tiễn, và vị trí của Nhà nước như một bộ phận cấu thành của kiến trúc thượng tầng thực hiện chức năng xã hội tác động trở lại cơ sở hạ tầng kinh tế và môi trường tự nhiên.

Hệ thống khái niệm và khung phân tích sử dụng:

  • Tăng trưởng kinh tế: Luận án điểm lại các lý thuyết từ cổ điển đến hiện đại bao gồm quan điểm của Adam Smith (tăng sản phẩm lao động dựa trên tích lũy tư bản), David Ricardo (đất đai, lao động, vốn), C. Mác (sức lao động, giá trị thặng dư và tiến bộ kỹ thuật), John Maynard Keynes (vai trò của đầu tư và tổng cầu), Robert Solow (vai trò quyết định của tiến bộ công nghệ) và lý thuyết tăng trưởng nội sinh. Tại Việt Nam, tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng về quy mô sản lượng (đo bằng GDP, GNP, GDP bình quân đầu người) trong một thời kỳ nhất định, phản ánh mặt lượng của nền kinh tế.
  • Môi trường và Môi trường sinh thái: Môi trường được phân chia thành môi trường xã hội, môi trường nhân tạo và môi trường tự nhiên. Môi trường sinh thái được luận án xác định là môi trường sinh thái tự nhiên - nơi cung cấp các yếu tố đầu vào (tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo và không thể tái tạo) cho quá trình sản xuất và tiếp nhận chất thải đầu ra.
  • Bảo vệ môi trường sinh thái: Hoạt động của con người nhằm khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, bảo đảm cân bằng sinh thái trên cơ sở giữ gìn sự trong sạch, tái tạo và cải thiện môi trường, ngăn chặn các tác động tiêu cực do tăng trưởng kinh tế gây ra.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Luận án sử dụng các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính chuyên ngành và liên ngành: phương pháp lôgic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, điều tra, thu thập thông tin, khảo sát, tra cứu, đối chiếu và so sánh tài liệu văn bản.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu: Các văn kiện Đại hội Đảng (đặc biệt là Đại hội VIII và XI), hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và các nghị định hướng dẫn), các chiến lược quốc gia chuyên ngành, báo cáo tổng kết của các cơ quan Trung ương và số liệu từ các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai cụm vấn đề: (1) Các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế, môi trường sinh thái và sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái; (2) Các nghiên cứu về vai trò của Nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế và vai trò của Nhà nước trong bảo vệ môi trường sinh thái.

Tác giả luận án khái quát rằng các nghiên cứu trước đây đã làm rõ nội hàm khái niệm tăng trưởng kinh tế, chỉ ra tính tất yếu khách quan của bảo vệ môi trường sinh thái và khẳng định Nhà nước là chủ thể đại diện quyền sở hữu toàn dân về tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, các công trình chủ yếu tiếp cận theo các hướng riêng rẽ: phân tích tăng trưởng kinh tế hoặc quản lý nhà nước về môi trường dưới góc độ kinh tế học, luật học, sinh thái học. Khoảng trống khoa học được xác lập là chưa có công trình nào giải quyết một cách có hệ thống vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp hai nhiệm vụ này dưới góc độ triết học. Đây là cơ sở để luận án triển khai các nội dung nghiên cứu ở các chương tiếp theo.

Chương 2: Kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái - Yêu cầu của sự phát triển bền vững và vai trò của Nhà nước trong sự kết hợp đó

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận triết học về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và môi trường sinh thái, đồng thời luận giải bản chất vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện sự kết hợp này.

Nội dung trọng tâm của chương bao gồm:

  • Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái: Tăng trưởng kinh tế tác động trực tiếp đến môi trường sinh thái thông qua các yếu tố của lực lượng sản xuất, bao gồm người lao động (chủ thể sản xuất có nhu cầu sinh tồn và nhận thức), tài nguyên thiên nhiên (đối tượng lao động) và tiến bộ khoa học - công nghệ. Ngược lại, môi trường sinh thái giữ vai trò là tiền đề vật chất, cái kho chứa cung cấp các yếu tố đầu vào cho sản xuất. Nếu môi trường sinh thái bị hủy hoại và tài nguyên cạn kiệt, nền kinh tế sẽ mất đi đối tượng lao động để duy trì tăng trưởng.
  • Tính tất yếu của việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái: Được luận giải qua ba điều kiện căn bản: (1) Mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn dựa vào việc khai thác tự nhiên, dẫn tới nguy cơ suy giảm chất lượng môi trường nếu không được kiểm soát; (2) Sự tồn tại mâu thuẫn khách quan giữa nhu cầu khai thác tài nguyên phục vụ tăng trưởng trước mắt với yêu cầu bảo tồn cho phát triển bền vững lâu dài; (3) Kết hợp kinh tế và môi trường là điều kiện tiên quyết bảo đảm tính bền vững xã hội, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống con người.
  • Vai trò của Nhà nước trong sự kết hợp: Với tư cách là đại diện sở hữu toàn dân về tài nguyên và trung tâm điều tiết của kiến trúc thượng tầng, Nhà nước đóng vai trò định hướng thông qua quy hoạch, chiến lược; kiến tạo khuôn khổ pháp lý; đầu tư tài chính và ứng dụng công nghệ; kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm; giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng.

Chương 3: Vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao vai trò của Nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 phân tích thực trạng và chỉ ra ba mâu thuẫn chủ yếu đang cản trở việc phát huy vai trò của Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ năm 1996 đến nay:

  • Mâu thuẫn thứ nhất (Tiết 3.1): Mâu thuẫn giữa yêu cầu đòi hỏi phải có tính đồng bộ về hệ thống chính sách, chiến lược, pháp luật trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái, với tình trạng thực tế hệ thống văn bản pháp luật còn thiếu sót, chồng chéo, chưa đồng bộ và chưa theo kịp thực tiễn phát triển kinh tế thị trường.
  • Mâu thuẫn thứ hai (Tiết 3.2): Mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực hiện, kiểm tra, thanh tra, giám sát việc kết hợp tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, với hiệu quả thực tế của bộ máy nhà nước còn nhiều bất cập, hạn chế. Tình trạng buông lỏng quản lý, xử lý vi phạm môi trường chưa nghiêm, công nghệ sản xuất ở nhiều ngành còn lạc hậu gây lãng phí tài nguyên và ô nhiễm nghiêm trọng.
  • Mâu thuẫn thứ ba (Tiết 3.3): Mâu thuẫn giữa đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước với các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân, với tình trạng phối hợp thực tế còn lỏng lẻo, phân tán, chưa tạo được sự đồng thuận và sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong công tác bảo vệ môi trường sinh thái khi phát triển kinh tế.

Chương 4: Một số nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam hiện nay

Dựa trên việc giải quyết các mâu thuẫn đã chỉ ra ở Chương 3, Chương 4 đề xuất ba nhóm giải pháp cơ bản:

  • Nhóm giải pháp 1 (Tiết 4.1): Nâng cao hiệu quả xây dựng hệ thống chính sách, chiến lược, pháp luật của Nhà nước. Trọng tâm là hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với các tiêu chuẩn môi trường; sửa đổi, bổ sung các đạo luật chuyên ngành về tài nguyên, khoáng sản, đất đai, nguồn nước; lồng ghép mục tiêu bảo vệ môi trường vào tất cả các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngành và vùng.
  • Nhóm giải pháp 2 (Tiết 4.2): Nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước. Tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường từ trung ương đến địa phương; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác quản lý; tăng cường các chế tài xử phạt hành chính và hình sự đối với các hành vi gây ô nhiễm; đẩy mạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật môi trường của các doanh nghiệp.
  • Nhóm giải pháp 3 (Tiết 4.3): Nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc tạo ra sự đồng thuận của toàn xã hội. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức sinh thái cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý và các chủ doanh nghiệp; xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; khuyến khích cộng đồng dân cư và doanh nghiệp tham gia đầu tư tài chính, chuyển đổi công nghệ sạch và giám sát môi trường.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án làm rõ cơ sở triết học của mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái thông qua phân tích hoạt động sản xuất vật chất của con người.
  • Luận giải sâu sắc tính tất yếu và chức năng xã hội của Nhà nước thuộc kiến trúc thượng tầng trong việc điều tiết, dung hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo tồn tự nhiên vì mục tiêu phát triển bền vững.
  • Xác định khung phân tích hệ thống về nội dung vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp hai mục tiêu này trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Về mặt thực tiễn:

  • Khái quát và nhận diện rõ nét ba mâu thuẫn cơ bản trong quá trình thực hiện vai trò quản lý của Nhà nước Việt Nam từ năm 1996 đến nay (mâu thuẫn về thể chế - chính sách; mâu thuẫn về hiệu lực bộ máy thực thi - kiểm tra; mâu thuẫn về cơ chế phối hợp xã hội).
  • Hệ thống hóa ba nhóm giải pháp có tính đồng bộ, khả thi nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
  • Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong quản lý tài nguyên và môi trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt giới hạn nghiên cứu:

  • Luận án tiếp cận vấn đề vai trò của Nhà nước dưới góc độ triết học xã hội và phương pháp luận duy vật biện chứng, tập trung làm rõ các nguyên lý, quy luật và chức năng xã hội của Nhà nước; do đó không đi sâu vào việc xây dựng các mô hình kinh tế lượng định lượng hay phân tích chi tiết các quy trình kỹ thuật công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường.
  • Phạm vi nghiên cứu thực tiễn tập trung vào bối cảnh Việt Nam từ năm 1996 đến thời điểm nghiên cứu (thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa).

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Triển khai nghiên cứu sâu hơn về cơ chế vận hành của các công cụ kinh tế cụ thể (thuế môi trường, thị trường quyền phát thải, ký quỹ phục hồi môi trường) dưới sự quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế số và kinh tế tuần hoàn.
  • Mở rộng phạm vi đánh giá tác động của các chính sách kết hợp tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tại các vùng kinh tế trọng điểm hoặc các ngành công nghiệp đặc thù (khai khoáng, năng lượng, nông nghiệp công nghệ cao).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Triết học, Triết học xã hội, Kinh tế chính trị, Quản trị công và Quản lý tài nguyên môi trường trong việc nghiên cứu cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên.
  • Giảng viên giảng dạy các môn lý luận chính trị và khoa học xã hội trong việc xây dựng bài giảng liên quan đến phát triển bền vững, quản lý nhà nước về kinh tế và môi trường.
  • Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý tại các cơ quan bộ, ngành (như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư) và chính quyền địa phương tham khảo trong quá trình xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ sinh thái.
  • Nội dung các chương: Khung lý luận về quan hệ biện chứng ở Chương 2; phân tích 3 mâu thuẫn quản lý thực tế ở Chương 3; và hệ thống giải pháp thể chế, bộ máy ở Chương 4 là các phần có giá trị trích dẫn và ứng dụng cao.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án tiếp cận khái niệm môi trường sinh thái theo khía cạnh nào? Luận án tiếp cận môi trường sinh thái dưới giác độ môi trường sinh thái tự nhiên, được xem là nơi cung cấp các yếu tố đầu vào (tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, đất, nước, hệ sinh thái) cho quá trình sản xuất vật chất của nền kinh tế và là nơi tiếp nhận các chất thải đầu ra.

  2. Mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và môi trường sinh thái được luận giải ra sao? Tăng trưởng kinh tế tác động lên môi trường sinh thái thông qua người lao động, việc khai thác tài nguyên và ứng dụng khoa học - công nghệ. Ngược lại, môi trường sinh thái là tiền đề vật chất cung cấp đối tượng lao động; bảo vệ môi trường sinh thái giúp duy trì nguồn lực đầu vào ổn định cho tăng trưởng lâu dài.

  3. Luận án chỉ ra ba mâu thuẫn chủ yếu nào trong vai trò của Nhà nước Việt Nam hiện nay? Ba mâu thuẫn gồm: (1) Mâu thuẫn giữa đòi hỏi tính đồng bộ của chính sách, pháp luật với tình trạng còn thiếu và chưa đồng bộ; (2) Mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao hiệu lực thực thi, kiểm tra, giám sát với hiệu quả thực tế còn bất cập, hạn chế; (3) Mâu thuẫn giữa yêu cầu phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước với toàn xã hội với tình trạng phối hợp còn lỏng lẻo.

  4. Ba nhóm giải pháp chủ yếu được đề xuất trong Chương 4 gồm những gì? Gồm: (1) Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng hệ thống chính sách, chiến lược, pháp luật; (2) Nhóm giải pháp nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước; (3) Nhóm giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc tạo ra sự đồng thuận của toàn xã hội.

  5. Điểm mới về mặt học thuật của luận án so với các công trình trước là gì? Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên phân tích vai trò của Nhà nước trong việc kết hợp đồng thời giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái tại Việt Nam dưới góc độ triết học (chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng), thay vì xem xét tách rời hoặc thuần túy tiếp cận dưới góc độ kinh tế học/luật học.

Kết luận

Luận án tiến sĩ triết học về chủ đề vai trò của Nhà nước trong kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam đã giải quyết toàn diện các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra từ góc nhìn duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Công trình đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường sinh thái, đồng thời nhận diện sâu sắc ba mâu thuẫn thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước giai đoạn từ năm 1996 đến nay. Hệ thống ba nhóm giải pháp được đề xuất có tính đồng bộ, cung cấp luận cứ khoa học xác đáng cho việc hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản lý nhà nước nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đất nước.