Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KẾT HỢP TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI 1. Các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là chủ đề được bàn luận khá nhiều trong thời gian qua dưới các góc độ kinh tế, xã hội, môi trường… Trên khía cạnh kinh tế học, khái niệm TTKT thường được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau: TTKT là mức tăng sản lượng thực tế (sản phẩm hàng hóa, dịch vụ) của một quốc gia theo một thời gian nhất định [58]; TTKT là mở rộng quy mô sản xuất sản xuất quốc gia, tiềm năng của một nước, tiềm năng hiện thực: việc mở rộng khả năng kinh tế để sản xuất [146]; TTKT là sự tăng lên của sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong một nước do sự tăng lên của thu nhập quốc dân và sản phẩm bình quân đầu người [132]; TTKT là một khái niệm kinh tế học được dùng để chỉ sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời gian nhất định. Các chỉ tiêu để đánh giá TTKT thường được sử dụng là tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), GDP và GNP bình quân đầu người cùng một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác [127], [144].
Đi sâu hơn nữa về TTKT, nhiều công trình đã có những luận chứng sâu sắc về quá trình TTKT ở Việt Nam, qua đó đề ra các giải pháp giúp nâng cao tốc độ tăng trưởng cho nền kinh tế ở nước ta, tiêu biểu như các công trình sau: Trong công trình “Các mô hình tăng trưởng kinh tế” của tác giả Trần Thọ Đạt [57] và “Mô hình tăng trưởng kinh tế” của tác giả Trần Văn Tùng [147] đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về các mô hình TTKT trên thế giới như: Mô hình tăng trưởng trường phái Keynes, Harrod Domar, tăng trưởng tân cổ điển mở rộng, tăng trưởng nội sinh. Các nghiên cứu này còn chỉ rõ những nội dung cơ bản của các lý thuyết TTKT, lý thuyết TTKT dưới dạng các mô hình 7 toán học và tập trung phân tích quá trình tăng trưởng ở các khu vực, các quốc gia trên thế giới và ở nước ta hiện nay. Về mô hình TTKT ở nước ta hiện nay, các nghiên cứu đều khẳng định cho đến nay mô hình TTKT trong nước vẫn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng, dựa vào tăng quy mô tài sản cố định và khai thác TNTN là chính. Mô hình này, ở phương diện tích cực đã đem lại nhiều lợi thế để kinh tế đất nước tăng trưởng với tốc độ nhanh, song, mô hình kinh tế đó còn để lại nhiều hạn chế, trong đó có hạn chế lớn nhất là làm cho kinh tế tăng trưởng chưa thật sự bền vững.
Bài viết “Về chất lượng phát triển của Việt Nam thời kỳ 2000 - 2010”, được biên soạn theo tài liệu của các cơ quan Trung ương, Tạp chí Lý luận chính trị [148] đã khẳng định, “trong thời kỳ chiến lược 2001 - 2010, nước ta đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định, ước tính tăng trưởng GDP đạt khoảng 7,2%/năm. Việt Nam tiếp tục giữ vị trí là một trong những nước có sự tăng trưởng nhanh so với các nước trong khu vực và trên thế giới” [148, tr.48], “tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh có ý nghĩa rất quan trọng giúp nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển và bước vào thời kỳ mới, gia nhập nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình” [148, tr. Tuy nhiên, bài báo cũng khẳng định, nền kinh tế trong nước vẫn kéo dài tình trạng tăng trưởng chủ yếu vào các yếu tố phát triển theo theo chiều rộng. TTKT trong những năm qua nghiêng nhiều về yếu tố vốn hơn là yếu tố lao động.
Bên cạnh đó, mức tiêu hao năng lượng ở nước ta còn khá cao, năng lực cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế thấp; đặc biệt những hạn chế về lĩnh vực xã hội còn nhiều: chẳng hạn thành tựu xóa đói, giảm nghèo chưa vững chắc, bất bình đẳng có xu hướng gia tăng giữa các vùng và các tầng lớp dân cư, tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng, việc “quản lý, bảo vệ tài nguyên còn buông lỏng; một số tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là những tài nguyên không có khả năng tái tạo đang bị khai thác với công nghệ lạc hậu, gây lãng phí và đứng trước nguy cơ cạn kiệt” [148, tr. Tác giả Nguyễn Thị Doan trong bài viết “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta” [44] cho rằng, trong 8 những năm đổi mới, “so với các quốc gia, nước ta đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và liên tục. Cùng với tăng trưởng kinh tế cao, chất lượng tăng trưởng kinh tế cũng đang được cải thiện” [44, tr. Tuy nhiên, tác giả cũng nhấn mạnh, “tăng trưởng kinh tế của nước ta chủ yếu vẫn theo bề rộng, dựa vào tăng quy mô tài sản cố định, tài nguyên thô và số lượng lao động; cơ cấu kinh tế kém hiệu quả, năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh thấp; các cân đối vĩ mô của nền kinh tế chưa thật vững chắc” [44, tr.
Do đó, Việt Nam cần phải thay đổi mô hình TTKT từ tăng trưởng theo bề rộng là chủ yếu sang tăng trưởng bền vững theo chiều sâu, TTKT phải dựa trên nền tảng coi trọng chất lượng. Về lâu dài, cần triệt để chuyển từ tăng trưởng nhờ tăng quy mô vốn đầu tư, khai thác TNTN và sức lao động sang tăng trưởng dựa vào tri thức và công nghệ, giảm các ngành tiêu hao nhiều năng lượng, TNTN, tăng các ngành sử dụng năng lượng sinh học, năng lượng gió. Bên cạnh đó, cần có các giải pháp chiến lược như đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa lớn; GD, ĐT nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển KH và CN để KH, CN trở thành động lực phát triển đất nước, cần mạnh dạn đổi mới tư duy trong quản lý, điều hành, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước; tăng cường giám sát, kiểm tra việc sử dụng vốn của Nhà nước và xử lý dứt điểm các kết luận sau thanh tra, kiểm tra. Nghiên cứu dưới góc độ tăng trưởng bền vững, các tác giả Hoàng Đức Thân, Đinh Quang Ty trong cuốn sách “Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam” [127]; tác giả Nguyễn Phú Trọng trong cuốn “Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” [144] đã đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa TTKT với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như mối quan hệ giữa TTKT với tiến bộ, công bằng xã hội, mối quan hệ giữa TTKT với phát triển văn hoá, mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng XHCN, mối quan hệ giữa TTKT với bảo vệ MT.
Các tác giả cho rằng, đó là những mối quan hệ cơ bản, phức tạp, có liên quan đến sự tồn vong của quốc gia dân tộc, đòi 9 hỏi Nhà nước ta phải có những biện pháp để giải quyết thỏa đáng. Trong nội dung về mối quan hệ giữa TTKT và bảo vệ MT, các tác giả khẳng định, ở nước ta, kể từ khi đổi mới, kinh tế có sự tăng trưởng khá, song vấn đề MT lại ngày một xuống cấp. Nhà nước cần phải có những chính sách, chiến lược hợp lý để giải quyết dứt điểm tình trạng này. Các tác giả Nguyễn Văn Nam, Trần Thọ Đạt trong nghiên cứu “Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” [102] đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tốc độ, chất lượng TTKT ở Việt Nam.
Qua việc phân tích thực trạng, chất lượng TTKT ở nước ta giai đoạn cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI, các tác giả cho rằng, những yếu tố thể hiện chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế nước ta là: tổng giá trị sản xuất, tổng sản phẩm quốc nội, tổng thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người và một số các tiêu chí định tính khác như: xóa đói giảm nghèo, phúc lợi xã hội, công bằng xã hội, môi trường môi sinh. Cũng trong cuốn sách này, các tác giả đã chỉ ra và phân tích những giải pháp cơ bản để thúc đẩy kinh tế Việt Nam tăng trưởng đạt chất lượng và hiệu quả cao. Như vậy, qua nghiên cứu một số công trình khoa học về TTKT, cho thấy, nhìn chung, các nghiên cứu đều tập trung làm rõ nội hàm của khái niệm TTKT, chỉ ra các mô hình TTKT khác nhau trên thế giới và mô hình kinh tế mà Việt Nam đang theo đuổi. Các nghiên cứu còn làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô TTKT trên thế giới và ở Việt Nam, vạch ra các giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy quá trình TTKT ở nước ta giai đoạn CNH, HĐH đất nước.
Các nghiên cứu về môi trường sinh thái, về bảo vệ môi trường sinh thái Môi trường sinh thái là một trong những vấn đề được đề cập đến khá nhiều trong thời gian qua ở nước ta trên các bình diện khác nhau. Dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ MTST. Nhằm bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng, đảm bảo quyền con người 10 được sống trong MT trong, sạch, đẹp, phục vụ sự nghiệp PTBV đất nước, Đảng và Nhà nước đã ra nhiều văn bản luật, dưới luật, các chỉ thị, nghị quyết về MTST và bảo vệ MTST. Trong một loạt các văn bản quy phạm pháp luật như “Luật Bảo vệ môi trường và văn bản hướng dẫn thi hành”; “ Luật Bảo vệ môi trường năm 2005”; “Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia”… Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định nhiều nội dung quan trọng về MTST cũng như bảo vệ MTST.
Theo đó, bảo vệ MTST được quan niệm là bảo vệ các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và các giống loài động thực vật. Thực chất của bảo vệ MTST là bảo vệ MT nước, MT không khí, bảo vệ TNTN, bảo tồn đa dạng sinh học… [20], [27], [31], [33], [111], [113], [105]. Tác giả Nguyễn Minh Hằng trong bài viết “Môi trường sinh thái - vấn đề của mọi người” [62] khẳng định, MTST là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu.