Chương 1: Giới thiệu — Giới thiệu chung — _ Xác định van dé nghiên cứu — Mục tiêu nghiên cứu — Pham vi nghiên cứu Học viên thực hiện: Nguyễn Minh Hùng-Khóa 2014 20 Luận văn thạc sĩ GVAD: PGS. Lưu Truong Van — Dong gop cua nghiên cứu — _ Câu trúc luận văn 2. Chương 2: Tổng quan — Phát triển bền vững và Công trình xanh — Công trình xanh tại Việt Nam — Hệ thống đánh giá công trình xanh tại Việt Nam — Những nghiên cứu trước tương tự từ những nước khác trên thế giới — Các rào cản có khả năng ảnh hưởng đến việc phát triển công trình xanh tại Việt Nam 3. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Giới thiệu bảng câu hỏi, sơ đồ nghiên cứu chung băng bảng câu hỏi và các công cụ dùng trong nghiên cứu — Giới thiệu bảng câu hỏi — Quy trình nghiên cứu chung bằng bảng câu hỏi — Các công cụ nghiên cứu — Xác định các rào cản trong việc phát triển công trình xanh tại Việt Nam — Đề xuất giải pháp 4.
Chương 4: Phân tích các rào cản trong việc phát triển công trình xanh tại Việt Nam — Tóm tắt chương — Đặc điêm của dữ liệu nghiên cứu Học viên thực hiện: Nguyễn Minh Hùng-Khóa 2014 21 Luận văn thạc sĩ GVAD: PGS. Lưu Truong Van Đánh giá độ tin cậy thang do Phân tích thống kê mô tả So sánh quan điểm về những rào cản theo kinh nghiệm về công trình xanh của những người tham gia khảo sát Phân tích nhân tố khám phá-Exploratory Factor Analysis Thực hiện phép phân tích cluster trên các đối tượng tham gia khảo sát Kết luận 5. Chương 5: Đề xuất các giải pháp để vượt qua các rào cản trong việc phát triển công trình xanh tại Việt Nam 6. Chương 6: Kết luận và kiến nghị Học viên thực hiện: Nguyễn Minh Hùng-Khóa 2014 22 Luận văn thạc sĩ GVAD: PGS.
Lưu Truong Van CHUONG 2 TONG QUAN 2.1 Phát triển bền vững va Công trình xanh Thuật ngữ “phát triển bền vững” được đưa ra kế từ khi thế giới nhận thấy “hiện tượng nóng lên toàn cầu”. Năm 1987, Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới đã ghi rõ trong Báo cáo Brundtland: “Phát triển bên vững là sự phát triển có thé đáp ứng được những nhu cau hiện tại mà không ảnh hưởng, tôn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cau của các thé hệ tương lai.” Mục dich của phát triển bền vững là tạo ra sự phát triển hài hòa, cân bằng giữa bộ ba cốt lõi: phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường (Hình 2. Bộ ba cốt lõi của phát triển bền vững. (Parkin, et al., 2003) Học viên thực hiện: Nguyễn Minh Hùng-Khóa 2014 23 Luận văn thạc sĩ GVAD: PGS.
Lưu Truong Van Việt Nam đang phải đối mặt với những áp lực không nhỏ tác động lên môi trường do quá trình phát triển kinh tế-xã hội, đô thị hóa, công nghiệp hóa, tiêu thụ năng lượng và tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên. Tăng trưởng kinh tế, công nghiệp hóa, tiêu thụ năng lượng, phát triển dân số và quá trình đô thi hóa lam tăng phát thải CO›. Lượng khí CO> và các loại khí nha kính phát thải quá nhiều gây nên hiện tượng nóng lên toàn cầu và biến đối khí hậu. Biến đổi khí hậu gây nên các hiện tượng thời tiết cực đoan như những cơn bão mạnh, lượng mưa bất thường và nắng nóng.
Hậu quả của biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp và sản xuất lương thực do các vùng nông thôn - nơi hầu hết các hoạt động nông nghiệp diễn ra - rất dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, làm ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình, đe doa cuộc sống của họ. Điều này làm gia tăng áp lực kinh tế đã đây người dân ở nông thôn đi tìm kiếm việc làm và cơ hội ở các thành phố mới. Sự di cư từ nông thôn lên thành thị ảnh hưởng đến dân số đô thị và quá trình đô thị hóa, tạo ra nhu cầu lớn về nhà ở. Do nhu cau lớn về nhà ở trong tương lai, ngành xây dựng được dự đoán là sẽ được các nhà đầu tư tập trung đầu tư.
Các công trình xây dựng anh hưởng đến con người và môi trường theo nhiều cách. Theo Cơ quan bảo vệ Môi trường Hoa Ky, (2004) con người dành khoảng 90% thời gian sinh hoạt trong các công trình. Các công trình tạo ra nơi trú ngụ, bảo vệ con người khỏi các hiện tượng thời tiết cực đoan, tuy nhiên các công trình cũng phát thải các hợp chất gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe con người. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp xây dựng lại là một trong những ngành góp phân vào sự nóng lên toàn câu, gây 6 nhiễm và ảnh hưởng đến môi trường.
Tác động Học viên thực hiện: Nguyễn Minh Hùng-Khóa 2014 24 Luận văn thạc sĩ GVAD: PGS. Lưu Truong Van của nó đối với bién đối khí hậu đã được các nhà nghiên cứu nghiên cứu và giải thích. Theo số liệu thống kê nhanh từ trang Cơ sở dữ liệu và Mạng lưới Công Trình Xanh Việt Nam: -Các công trình chiếm 40% việc sử dụng năng lượng trên toàn thế giới (WBCSD). —Năng lượng sử dụng trong suốt vòng đời của nó gây ra đến 90% tác động môi trường của các công trình (Tạp chí Công trình Xanh).
-Hoạt động xây dựng tiêu thụ nhiều hơn 2/3 tổng lượng điện tiêu thụ (BuildingScience.com) — Các công trình dân sinh và thương mai tiêu thụ 40% năng lượng so cấp (nguén cấp năng lượng thô chưa qua xử lý như than đá và dầu thô .) và 71 % tổng năng lượng điện ở Hoa Ky. (ASHRAE) Năng lượng tiêu thụ từ các công trình chiếm 40% tông năng lượng tiêu thụ trên toàn thế giới-lớn hơn cả con số năng lượng tiêu thụ của ngành giao thông vận tải. Hơn nữa, trong 25 năm tới, lượng khí thải CO2 từ các công trình được dự đoán sẽ tăng trưởng nhanh hơn bat kỳ lĩnh vực nao khác (ở Mỹ), với lượng khí thải từ các công trình thương mại dự kiến sẽ tăng nhanh nhất 1,8% một năm đến năm 2030 (USGBC). Thông thường năng lượng điện sẽ gây ra các tác động môi trường lớn nhất so với các dạng năng lượng khác.
Nguồn khai thác của năng lượng điện sẽ quy định các tác động nay là như thế nào. Lay ví dụ tại Hoa Ky, các công trình tiêu thụ hơn 70% Học viên thực hiện: Nguyễn Minh Hùng-Khóa 2014 25 Luận văn thạc sĩ GVAD: PGS. Lưu Truong Van năng lượng điện, trong đó hầu hết năng lượng điện được sản xuất từ các nhà máy nhiệt điện đốt than (USGBC). Hong-Trang & Gray, 2016 trích dẫn một số nghiên cứu khác cho thấy ngành công nghiệp xây dựng phát thải một nữa lượng CO; toàn câu và tiêu thụ gần 50% tong tài nguyên toàn cầu, tại Việt Nam ngành xây dựng sử dụng 36% tổng lượng điện.
Hong-Trang & Gray, 2016 cũng trích dẫn từ Ortiz, Castells (2009) trích dẫn một số nghiên cứu cáo buộc ngành công nghiệp xây dựng tiêu thụ năng lượng cao, tạo ra chất thải ran, phát thải khí nha kính, ô nhiễm, thiệt hại môi trường va suy giảm tài nguyên thiên nhiên. Mặc dù có những ảnh hưởng tiêu cực nhưng ngành công nghiệp xây dựng được xem là có tiềm năng lớn đóng góp vào sự phát triển bên vững thông qua các công trình bền vững (công trình xanh). Phong trào công trình xanh bắt đầu vào những năm 1970 ở Châu Âu và Mỹ. Ban đầu, công trình xanh được xem là giải pháp để giảm tiêu thụ năng lượng, đối phó với tinh hình thị trường năng lượng bất 6n sau khi lệnh cắm vận dầu do Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) ban hành.
Dan dan, công trình xanh nhận được sự quan tâm từ chính phủ các nước, các ngành công nghiệp sản xuất, và các nhà nghiên cứu như là một sự đổi mới day htra hen dé giảm bot các tác động tiêu cực cua ngành xây dựng đối với môi trường, cũng như là van dé tiêu thụ năng lượng và nước. Do đó, công trình xanh hiện nay đã trở thành tiền dé của phát triển bên vững. Công trình xanh được thiết kế để có thể hạn chế tối đa những tác động không tốt của môi trường xây dựng tới sức khỏe con người và môi trường tự nhiên và được đánh giả bởi các công cụ đánh giá công trình xanh theo các tiêu chí liên quan đên môi Học viên thực hiện: Nguyễn Minh Hùng-Khóa 2014 26 Luận văn thạc sĩ GVAD: PGS. Lưu Truong Van trường.
Vi du như LOTUS nha ở chung cu (LOTUS MFR) đánh giá công trình trong giai đoạn thiết kế, xây dựng, hoàn công va van hanh thông qua các tác động tới môi trường, mức độ hiệu quả sử dựng tài nguyên và tiện nghi của người sử dụng, theo 09 tiêu chí: năng lượng, nước, vật liệu. sinh thái, rác thải & 6 nhiễm, sức khỏe & tiện nghị, thích ứng & giảm nhẹ, cộng đồng, quản lý, và một hạng mục sáng tạo. Nhìn chung, lợi ích mà công trình xanh mang lại là hiệu quả về tài nguyên, cải thiện sức khỏe người sử dụng và giảm chất thải trong vòng đời của nó. Công trình xanh cũng được tin tưởng rằng sẽ mang lại những lợi ích kinh tế trực tiếp cho chủ sử dụng vì nó có thể tiết kiệm được chi phí vận hành, bao trình, nang cao năng suất làm việc, tạo lợi thế cạnh tranh cho các nhà máy công nghiệp.
Hơn nữa, công trình xanh cũng mang lại những lợi ích kinh tế và môi trường gián tiếp cho các cộng đồng xung quanh. Trong một báo cáo của Green Building Council of Australia, (2013) cho thấy các công trình xanh được chứng nhận bởi Green Star - Hệ thống đánh giá công trình xanh được sử dụng rộng rãi tại Úc và New Zealand mang lại những lợi ích tích cực đáng ké: — Trung bình các công trình đạt chứng nhận Green Star phát thải khí nhà kính ít hơn 45%-62% so với các công trình thông thường tại Úc. — Trung bình các công trình đạt chứng nhận Green Star sử dụng điện năng ít hơn 50%-66% so với các công trình thông thường tại Úc. — Trung bình các công trình đạt chứng nhận Green Star sử dụng ít hon 51% nước uông so với các công trình thông thường.
Học viên thực hiện: Nguyễn Minh Hùng-Khóa 2014 27 Luận văn thạc sĩ GVAD: PGS. Lưu Truong Van —Téng lượng khí thai nha kính giảm được từ các công trình đạt chứng nhận Green Star tương đương với việc giảm 172,000 xe, khi so sánh với các công trình thông thường tai Úc, lượng khí thải giảm được là 625,000 tan CO; mỗi năm.