phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung luận văn chia làm 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu và khu vực nghiên cứu Chƣơng 2: Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 3 z CHƢƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tài liệu 1. Một số khái niệm Theo nghĩa rộng, tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, nhiên liệu, năng lƣợng, thông tin có trên trái đất và trong vũ trụ mà con ngƣời có thể sử dụng để phục vụ cho đời sống và sự phát triển của mình.
Theo Tổ chức Thƣơng mại Thế giới, tài nguyên thiên nhiên là nguồn nguyên vật liệu tồn tại tự nhiên trong môi trƣờng, có giá trị trong sản xuất hoặc tiêu thụ (WTO, 2010). Nƣớc là một hợp phần của tự nhiên, có vai trò quan trọng đối với môi trƣờng và các hệ sinh thái, vì nó quyết định đến sự tồn tại, phát triển và đặc trƣng của hệ. Đối với sự phát triển của xã hội, nƣớc không những là điều kiện tiên quyết cho sự sống mà còn là nhân tố góp phần vào mọi quá trình của sự phát triển. Nƣớc là tài nguyên thiên nhiên đặc biệt đƣợc con ngƣời sử dụng cho nhiều mục đích và mức độ khác nhau từ quá khứ đến hiện tại và trong tƣơng lai.
Định nghĩa “Phát triển bền vững” đƣợc Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đƣa ra lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lƣợc bảo tồn thế giới nhƣ sau: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trƣờng sinh thái học.” Theo Luật Bảo vệ Môi trƣờng 2014, PTBV là phát triển đáp ứng đƣợc nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tƣơng lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trƣởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trƣờng. Hội nghị Thƣợng đỉnh Thế giới về PTBV năm 2002 đã xác định: “PTBV là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trƣởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trƣờng (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lƣợng môi trƣờng; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên)”. Nhƣ vậy, nội dung của PTBV đƣợc xác định bằng ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Khái niệm “Tính bền vững” (Sustainability)đƣợc nêu ra lần đầu trong Báo cáo “Tƣơng lai của chúng ta” vào năm 1987, trong đó nhấn mạnh việc phát triển nền kinh tế toàn cầu cần đảm bảo duy trì hệ sinh thái cốt lõi (Brundtland và Khalid, 1987).
Tính bền vững thƣờng đƣợc sử dụng trong tiếp cận và nghiên cứu liên ngành nhằm đánh giá khả năng duy trì, phát triển của một hệ thống nhất định hoặc tích hợp các hệ thống. Tại Nhật Bản, tính bền vững đƣợc hiểu là các hoạt động khai thác tài nguyên, hệ sinh thái và môi trƣờng phải nằm trong giới hạn chịu đựng và phục hồi của hệ sinh thái tự nhiên. Các lĩnh vực thƣờng đƣợc quan tâm đánh giá để nâng cao tính bền vững bao 4 z gồm: khí hậu, đa dạng sinh học, nông nghiệp, nghề cá, TNN,… (Kajikawa, 2008). Nhƣ vậy, tính bền vững có thể hiểu là mức độ và khả năng duy trì phát triển các điều kiện thuận lợi (tài nguyên, môi trƣờng, hệ sinh thái,…) để con ngƣời và tự nhiên có thể phát triển một cách hài hòa.
Sử dụng bền vững tài nguyên là việc sử dụng mang lại lợi ích cho con ngƣời nhƣng không ảnh hƣởng đến việc duy trì đặc trƣng tự nhiên của hệ sinh thái (Ramsar, 1987). Trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên là việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên nhƣng vẫn duy trì hệ sinh thái và các quá trình sinh thái cốt lõi nhằm duy trì chức năng của sinh quyển và bảo tồn đa dạng sinh học (Brundtland và Khalid, 1987). PTBV TNN là việc sử dụng TNN đáp ứng nhu cầu của con ngƣời ở giai đoạn hiện tại, nhƣng phải đảm bảo nhu cầu cần thiết trong tƣơng lai để phát triển kinh tế có hiệu quả, đồng thời đảm bảo an sinh xã hội và môi trƣờng bền vững.Theo Luật TNN số 17/2012/QH13, “Phát triển TNN là biện pháp nhằm nâng cao khả năng khai thác, sử dụng bền vững TNN và nâng cao giá trị của TNN”. Nhƣ vậy, có thể hiểu rằng phát triển TNN trƣớc hết là tăng lƣợng nƣớc khai thác đƣợc, nhƣng phải đảm bảo lƣợng nƣớc đầy đủ cho nhu cầu lâu dài của nhiều thế hệ và phải nâng cao hiệu quả, làm tăng giá trị của nƣớc.
Theo Quyết định số 81/2006/QĐ – TTg về Chiến lược quốc gia về TNN đến năm 2020, quan điểm sử dụng bền vững TNN: “Quản lý tổng hợp phải đƣợc thực hiện theo phƣơng thức tổng hợp và thống nhất trên cơ sở lƣu vực sông. Cơ cấu sử dụng nƣớc phải phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc; TNN phải đƣợc PTBV; khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, tổng hợp và đa mục tiêu. Phải coi sản phẩm nƣớc là hàng hóa; sớm xóa bỏ cơ chế bao cấp, thực hiện xã hội hóa các hoạt động bảo vệ, phát triển nguồn nƣớc và cung ứng dịch vụ nƣớc”.Nhƣ vậy, quan điểm xuyên suốt trong Chiến lƣợc quốc gia về TNN năm 2006 là Quản lý TNN theo phƣơng thức tổng hợp, toàn diện. Đặc biệt, gần đây, quan điểm quản lý tổng hợp, toàn diện TNN đã đƣợc luật hóa và quy định trong Luật TNN số 17/2012/QH13.
Tổng quan nghiên cứu về đánh giá tính bền vững và sử dụng bền vững tài nguyên nước Trên thế giới: Các nguy cơ xung đột nguồn nƣớc đang diễn ra với mức độ ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt tại các quốc gia có sử dụng chung nguồn nƣớc trong một lƣu vực sông, kèm theo đó nhu cầu dùng nƣớc của nhân loại cũng tăng lên không ngừng. Hơn nữa, trong những thập kỷ gần đây, quá trình đô thị hóa, hoạt động nông nghiệp, công nghiệp phát triển đã gây ra ô nhiễm nguồn nƣớc. Mặt khác, BĐKH ngày càng tăng áp 5 z lực lên trữ lƣợng và chất lƣợng nguồn nƣớc, gây ô nhiễm, lũ lụt, hạn hán và thiếu hụt nguồn nƣớc nghiêm trọng ở nhiều nơi. Chính vì vậy, vấn đề nghiên cứu, đánh giá tính bền vững và sử dụng bền vững TNN đã đƣợc thế giới, các quốc gia, vùng lãnh thổ rất quan tâm.
Tại Hội nghị về Nƣớc đƣợc tổ chức tại Mar Del Plata (Argentina) năm 1977, lần đầu tiên Liên Hợp Quốc đƣa vấn đề Nƣớc lên diễn đàn Quốc tế và đã nhấn mạnh về vấn đề quy hoạch nƣớc sạch, vệ sinh và lấy thập kỷ 80 là “Thập kỷ Quốc tế nƣớc sạch và vệ sinh” (UN, 1977). Sự kiện này thể hiện mối quan tâm của các quốc gia, tổ chức trong vấn đề quản lý bền vữngTNN. Về thực hiện chức năng quản lý, Hội nghị Dublin (tháng 1/1992) và Hội nghị thƣợng đỉnh về Môi trƣờng và Phát triển tại Rio do Janeiro (Braxin, 1992) đã nêu rõ: “Quản lý tổng hợp TNN là một quá trình đẩy mạnh phối hợp phát triển và quản lý tài nguyên nƣớc, đất và các tài nguyên liên quan, sao cho tối đa hóa các lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng mà không phƣơng hạiđến tính bền vững của các hệ sinh thái thiết yếu” (CAWater, 1992). Đây đƣợc coi là nền tảng của công tác quản lý tổng hợp TNN.
Với nhận thức nguy cơ thiếu nƣớc ngọt là trầm trọng và có thể dẫn tới các cuộc tranh chấp do việc quản lý khai thác, sử dụng nguồn nƣớc không hợp lý làm chho nguồn nƣớc bị suy thoái, do ô nhiễm và cạn kiệt, năm 2000 Liên Hợp quốc đã đƣa ra “Mục tiêu thiên niên kỷ”.Một trong 8 mục tiêu đó là đảm bảo tính bền vững về môi trƣờng, trong đó có đề cập đến mục tiêu giảm tỷ lệ ngƣời dân không đƣợc tiếp cận bền vững với nguồn nƣớc sạch (UN, 2000).Năm 2003, Liên Hợp quốc đã thành lập Ủy ban về nƣớc của Liên Hợp quốc (UN – Water), để hỗ trợ các quốc gia trong nỗ lực liên quan đến nguồn nƣớc của họ, nhằm đạt đƣợc các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của nguồn nƣớc và nguy cơ bất ổn liên quan nguồn nƣớc, khái niệm an ninh nguồn nƣớc (Water Security) đƣợc đƣa ra trong tuyên bố chung cấp Bộ trƣởng tại Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2000, trong đó nhấn mạnh việc bảo vệ và cải thiện các hệ sinh thái nƣớc ngọt, ven biển và các hệ sinh thái liên quan; đẩy mạnh PTBV và ổn định chính trị; mỗi ngƣời đều đƣợc tiếp cận đầy đủ nguồn nƣớc sạch với chi phí vừa phải để có đƣợc một cuộc sống khỏe mạnh, sung túc và các cộng đồng dễ bị tổn thƣơng sẽ đƣợc bảo vệ trƣớc rủi ro từ những tai biến liên quan đến nƣớc (World Water Council, 2000). Nhiều nghiên cứu đã đƣợc thực hiện nhằm đánh giá tính bền vững của TNN và đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững TNN, một số nghiên cứu trong những năm gần đây nhƣ sau: 6 z - Parparov và Gal (2012) đã xây dựng khung phƣơng pháp để quản lý TNN bền vững bao gồm việc giám sát sinh thái, định lƣợng chất lƣợng nƣớc và mô hình hệ sinh thái và áp dụng để quản lý nƣớc hồ Kinneret, một nguồn cấp nƣớc quan trọng tại Israel. Trên cơ sở phân tích số liệu quan trắc và mô phỏng kịch bản mô hình, các tác giả đã xây dựng sự tƣơng quan định lƣợng giữa các hoạt động kinh tế với chất lƣợng nƣớc hồ và tƣơng quan giữa thay đổi nƣớc hồ với chất lƣợng và dinh dƣỡng nƣớc hồ, từ đó đề xuất chính sách quản lý bền vững.
- Shilling và nnk (2013) đã đề xuất khung đánh giá và tiến hành đánh giá tính bền vững của TNN tại California (Mỹ) dựa vào bộ chỉ số tính bền vững TNN. Nghiên cứu đã cung cấp thông tin về điều kiện hệ thống nƣớc và mối liên hệ với hệ sinh thái, hệ thống xã hội và hệ thống kinh tế. Các chỉ số tập trung vào độ tin cậy của cấp nƣớc, chất lƣợng nƣớc, sức khỏe hệ sinh thái, quản lý thích ứng và quản lý bền vững, lợi ích xã hội và công bằng.