Tổng quan về luận án

Bối cảnh suy thoái sinh thái và biến đổi khí hậu toàn cầu đang đặt các nền kinh tế chuyển đổi trước bài toán đánh đổi giữa tốc độ tăng trưởng và tính bền vững môi trường. Tại Việt Nam, phương thức quản lý môi trường truyền thống dựa trên mệnh lệnh - kiểm soát (command-and-control) bộc lộ những giới hạn nghiêm trọng về mặt hiệu quả kinh tế và khả năng kích thích đổi mới công nghệ. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (World Bank), tổn thất kinh tế do ô nhiễm môi trường tại Việt Nam ước tính lên tới 5,5% GDP mỗi năm. Báo cáo của Cục Y tế thuộc Bộ Giao thông Vận tải cũng chỉ ra rằng: "Thiệt hại kinh tế do ô nhiễm không khí đối với dân nội thành Hà Nội ước tính là 66,33 triệu USD/năm, đối với dân nội thành Thành phố Hồ Chí Minh là 70,96 triệu USD/năm". Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp bách phải chuyển dịch sang các công cụ kinh tế, trọng tâm là công cụ thuế.

Luận án tiến sĩ luật học "Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam" (Mã số chuyên ngành: 938 01 07 - Luật Kinh tế) do NCS Đặng Kim Phương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Hồng Hanh tại Trường Đại học Luật Hà Nội (2022) đại diện cho công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ tiếp cận thuế môi trường dưới góc độ khoa học pháp lý tích hợp kinh tế học pháp luật. Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được luận án nhận diện là: các công trình trước đây hoặc chỉ tiếp cận thuế môi trường thuần túy dưới góc độ kinh tế học (Bùi Đường Nghiêu, 2006), hoặc giới hạn phạm vi trong một đạo luật đơn lẻ là Luật Thuế Bảo vệ môi trường năm 2010 (Nguyễn Thị Huệ, 2021), bỏ qua tính chỉnh thể của hệ thống thuế môi trường bao gồm thuế tài nguyên và thuế tiêu thụ đặc biệt định hướng môi trường.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết được xác lập cụ thể:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Bản chất pháp lý, cấu trúc và tiêu chí đánh giá hiệu quả của pháp luật thuế môi trường là gì?
    • Giả thuyết 1 (H1): Thuế môi trường là một hệ thống đa sắc thuế có căn cứ tính thuế liên quan trực tiếp đến môi trường với mục tiêu bảo vệ môi trường, không giới hạn ở một đạo luật đơn lẻ.
  • Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Pháp luật thuế môi trường hiện hành tại Việt Nam bộc lộ những bất cập và khoảng cách nào so với thông lệ quốc tế và yêu cầu phát triển bền vững?
    • Giả thuyết 2 (H2): Hệ thống pháp luật thực định mang tính hạn chế về đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế cứng nhắc và cơ chế quản trị phân tán, làm suy giảm hiệu quả bảo vệ môi trường và hiệu quả kinh tế.
  • Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Những định hướng và giải pháp lập pháp đột phá nào cần được triển khai để tối ưu hóa hiệu quả thực thi pháp luật thuế môi trường tại Việt Nam?
    • Giả thuyết 3 (H3): Cải cách toàn diện cấu trúc thuế môi trường theo hướng mở rộng cơ sở thuế, linh hoạt hóa mức thuế suất, tái cấu trúc thủ tục quản lý thuế và thành lập Quỹ Tài nguyên là điều kiện tiên quyết để đạt mục tiêu kép.

Khung lý thuyết của công trình tích hợp học thuyết Thuế Pigou (Arthur C. Pigou), Nguyên tắc Người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle - PPP), Lý thuyết Cải cách thuế môi trường (Environmental Tax Reform - ETR) và Lý thuyết Kinh tế học pháp luật (Law and Economics). Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu thực thi pháp luật thuế bảo vệ môi trường, thuế tài nguyên và thuế tiêu thụ đặc biệt tại Việt Nam giai đoạn 2011–2016 cùng các văn bản quy phạm pháp luật cập nhật đến năm 2022, kết hợp đối chiếu so sánh với kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).


Literature Review và Positioning

Tổng quan tài liệu trong nước và quốc tế cho thấy sự tiến hóa của ba dòng học thuyết chính về công cụ tài khóa trong quản trị môi trường:

========================================================================================
TRƯỜNG PHÁI / DÒNG HỌC THUYẾT           TÁC GIẢ TIÊU BIỂU       LUẬN ĐIỂM CỐT LÕI
========================================================================================
Kinh tế học Môi trường & Ngoại tác      Arthur C. Pigou (1920)  Nội hóa chi phí ngoại 
                                        Bùi Đường Nghiêu (2006) ứng qua thuế tối ưu
----------------------------------------------------------------------------------------
Cải cách Thuế Môi trường (ETR)         Heine, Norregaard &     Chuyển dịch gánh nặng thuế
                                        Parry (2012, IMF)       từ "cái tốt" (lao động, vốn)
                                        Withana et al. (2013)   sang "cái xấu" (ô nhiễm)
----------------------------------------------------------------------------------------
Pháp luật Công cụ Kinh tế tại VN       Nguyễn Ngọc Ánh Đào     Luật hóa công cụ kinh tế;
                                        (2013); Nguyễn Thị Huệ  phân tích hạn chế thực thi
                                        (2021); GIZ (2014)      Luật Thuế BVMT 2010
========================================================================================

Dòng nghiên cứu lý thuyết kinh tế học môi trường bắt nguồn từ nguyên lý của Arthur C. Pigou (1920), được Bùi Đường Nghiêu (2006) phân tích sâu tại Việt Nam: "Mức thuế ô nhiễm tính cho một đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm, có giá trị bằng chi phí ngoại tác do đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm gây ra tại mức sản lượng tối ưu xã hội". Tiếp cận này chỉ ra rằng thuế là phương thức tối ưu để đưa chi phí ngoại ứng vào giá thành hàng hóa, khắc phục hiện tượng "bi kịch tài sản chung" (Tragedy of the Commons) khi các thành phần môi trường như không khí hay nguồn nước bị khai thác miễn phí dẫn đến cạn kiệt và suy thoái.

Dòng nghiên cứu về Cải cách Thuế Môi trường (ETR) tại các quốc gia OECD được định hình rõ nét qua công trình của Heine, Norregaard & Parry (2012, IMF) và Withana et al. (2013, IEEP). Báo cáo của Withana et al. (2013) nhấn mạnh bản chất của ETR là sự tái cấu trúc hệ thống thuế quốc gia, dịch chuyển gánh nặng tài khóa: "chuyển gánh nặng thuế đánh vào các chức năng kinh tế... 'cái tốt' như lao động (thuế thu nhập cá nhân), vốn (thuế thu nhập doanh nghiệp), tiêu dùng... sang đánh thuế vào những hành vi gây áp lực lên môi trường và việc sử dụng tài nguyên, thường được gọi là 'cái xấu'". Khảo sát của nhóm tác giả IMF chỉ ra rằng nguồn thu từ thuế môi trường chiếm khoảng 3% đến 10% tổng thu ngân sách tại các nước OECD, khẳng định tính khả thi của giả thuyết "cổ tức kép" (double dividend) – vừa cải thiện chất lượng môi trường vừa giảm thiểu méo mó kinh tế.

Tại Việt Nam, các công trình của Nguyễn Ngọc Ánh Đào (2013), Phạm Lan Hương (2014, mô hình CGE thuộc GIZ), Nguyễn Lâm Trâm Anh và Võ Trung Tín (2014), cùng luận án của Nguyễn Thị Huệ (2021) đã phân tích các khía cạnh khác nhau của công cụ kinh tế. Tuy nhiên, tồn tại hai quan điểm học thuật đối lập:

  1. Quan điểm tiếp cận hẹp coi pháp luật thuế môi trường chỉ bao gồm Luật Thuế Bảo vệ môi trường năm 2010 điều chỉnh các sản phẩm gây ô nhiễm khi sử dụng (Nguyễn Thị Huệ, 2021).
  2. Quan điểm tiếp cận rộng nhìn nhận thuế môi trường bao hàm tất cả các sắc thuế có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hành vi môi trường (Trần Vũ Hải, 2009; Rolf Buckley, 1991).

Luận án của NCS Đặng Kim Phương đã định vị chính xác khoảng trống học thuật bằng việc xác lập trường phái tiếp cận trung dung khoa học: định nghĩa thuế môi trường theo nghĩa bản chất pháp lý - kinh tế là tập hợp các sắc thuế có căn cứ tính thuế gắn liền với môi trường và mang mục tiêu bảo vệ môi trường, cụ thể gồm ba trụ cột: Thuế Bảo vệ môi trường, Thuế Tài nguyên, và Thuế Tiêu thụ đặc biệt (đối với hàng hóa gây tổn hại môi trường). Luận án so sánh trực tiếp với thực tiễn lập pháp quốc tế như hệ thống thuế nước thải của Pháp (1959), Hà Lan và Đức (1971), qua đó chứng minh sự lạc hậu của khung pháp lý Việt Nam khi chỉ đánh thuế trên đầu vào sản phẩm mà chưa đánh trực tiếp vào hành vi phát thải thực tế.


Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng học thuyết Thuế Pigou và Lý thuyết Thuế - Đoàn kết trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bằng việc xác lập 4 luận đề mang tính đột phá:

  1. Luận đề 1 (Đặc thù hóa nội hóa ngoại ứng): Luận án chứng minh rằng trong nền kinh tế đang phát triển, việc nội hóa chi phí ngoại tác thông qua thuế không thể áp dụng mức thuế biên bằng chi phí thiệt hại biên ngay lập tức do giới hạn về khả năng chịu đựng của doanh nghiệp và an sinh xã hội. Thuế Pigou tại Việt Nam phải được thiết kế theo lộ trình nâng dần mức thuế suất kết hợp với chính sách trợ cấp công nghệ sạch.
  2. Luận đề 2 (Đa dạng hóa bản chất thuế môi trường): Xác lập cơ sở lý luận khẳng định tính đa dạng của thuế môi trường bắt nguồn từ tính đa dạng của các thành tố môi trường (đất, nước, không khí, đa dạng sinh học) và tính đa chiều của hành vi xâm hại sinh thái, bác bỏ quan điểm đồng nhất thuế môi trường với một đạo luật duy nhất.
  3. Luận đề 3 (Bảo toàn vốn tự nhiên qua Quỹ Tài nguyên): Mở rộng lý thuyết phát triển bền vững về công bằng liên thế hệ. Luận án luận giải rằng nguồn thu từ khai thác tài nguyên không tái tạo (khoáng sản) không được phép hòa tan vào chi thường xuyên của Ngân sách Nhà nước mà phải được vốn hóa vào Quỹ Tài nguyên để đầu tư tái tạo tài sản cho các thế hệ tương lai.
  4. Luận đề 4 (Mối quan hệ biện chứng giữa cấu trúc pháp luật và hiệu quả thực thi): Luận giải quy luật tương thích giữa mức độ hoàn thiện của hệ thống quy phạm (pháp luật nội dung và pháp luật thủ tục) với sự thay đổi hành vi của người nộp thuế, dựa trên nguyên lý cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng của chủ nghĩa duy vật biện chứng.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp đa ngành giữa Khoa học Pháp lý, Kinh tế học Môi trường và Kinh tế học Thể chế, thiết lập Hệ tiêu chí 5 chiều để đánh giá mức độ hoàn thiện và hiệu quả thực hiện pháp luật thuế môi trường:

  • Tiêu chí bảo vệ môi trường: Mức độ giảm thiểu lượng phát thải chất gây ô nhiễm, mức giảm tiêu dùng tài nguyên không tái tạo và mức độ chuyển dịch sang công nghệ sản xuất thân thiện môi trường.
  • Tiêu chí hiệu quả kinh tế: Tối thiểu hóa chi phí hành chính thuế của cơ quan quản lý và chi phí tuân thủ của doanh nghiệp; mức độ triệt tiêu hiện tượng thất thu và méo mó thị trường.
  • Tiêu chí đơn giản, minh bạch: Mức độ rõ ràng, khả thi trong việc xác định đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế và quy trình kê khai, nộp thuế.
  • Tiêu chí ổn định tương đối: Khung pháp lý duy trì tính dự báo dài hạn, không bị xáo trộn tùy tiện nhưng có cơ chế tự động điều chỉnh theo biến động giá cả và lạm phát.
  • Tiêu chí công bằng xã hội: Đảm bảo công bằng dọc (người gây ô nhiễm nhiều trả nhiều) và công bằng ngang (các chủ thể gây ô nhiễm tương đương chịu mức thuế tương đương), giải quyết bài toán tác động lũy thoái đối với người thu nhập thấp.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo trường phái Thực chứng pháp lý kết hợp Kinh tế học pháp luật (Law and Economics Framework), đặt trên nền tảng thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử. Thiết kế nghiên cứu đa tầng (multi-level design) kết hợp giữa:

  • Tầng phân tích chuẩn tắc (Normative Legal Analysis): Đánh giá tính hợp hiến, tính thống nhất, đồng bộ và kỹ thuật lập pháp của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thuế.
  • Tầng phân tích thực nghiệm - kinh tế (Empirical & Economic Analysis): Đánh giá tác động kinh tế - xã hội, cấu trúc nguồn thu và phản ứng hành vi của các chủ thể nộp thuế dưới tác động của các chế định thuế thực định.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình nghiên cứu tuân thủ tiêu chuẩn nghiêm ngặt qua 4 giai đoạn logic:

  1. Giai đoạn 1 - Thu thập và phân loại dữ liệu pháp lý: Rà soát toàn bộ các văn bản luật, nghị định, thông tư điều chỉnh Thuế BVMT, Thuế Tài nguyên, Thuế TTĐB, Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước và các cam kết quốc tế của Việt Nam (NDCs, EVFTA).
  2. Giai đoạn 2 - Thu thập dữ liệu thứ cấp định lượng: Khảo sát chuỗi số liệu tài chính công và quản lý thuế giai đoạn 2011–2016 từ Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Tổng cục Thống kê, và số liệu phân bổ ngân sách khai thác khoáng sản tại địa phương (nghiên cứu trường hợp điển hình tại tỉnh Hà Giang).
  3. Giai đoạn 3 - Phương pháp so sánh luật học (Comparative Law): Lập ma trận đối chiếu quy định pháp luật thuế môi trường của Việt Nam với các quốc gia phát triển có kinh nghiệm lâu năm (Thụy Điển, Pháp, Đức, Anh, Thụy Sĩ, Nhật Bản, Hoa Kỳ).
  4. Giai đoạn 4 - Tổng hợp và kiểm chứng chuyên gia: Tham chiếu kết quả từ các mô hình cân bằng tổng thể (CGE) và vi mô phỏng (MS) trong các báo cáo quốc tế (GIZ, WB, IMF) để kiểm định tính khả thi của các đề xuất lập pháp.

Data và phân tích

Luận án khai thác các bảng số liệu thực chứng chi tiết phản ánh bức tranh thực thi pháp lý:

========================================================================================
BẢNG DỮ LIỆU THỰC CHỨNG TRONG LUẬN ÁN   NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA KHOA HỌC
========================================================================================
Bảng 2.1 (Trang 99)                     Số thu thuế BVMT chi tiết theo nhóm hàng hóa 
                                        giai đoạn 2012–2016 (Xăng dầu chiếm >90%)
----------------------------------------------------------------------------------------
Bảng 2.2 (Trang 107)                    Tỷ lệ thu thuế tài nguyên so với GDP và tổng thu 
                                        ngân sách nhà nước (NSNN) giai đoạn 2011–2016
----------------------------------------------------------------------------------------
Bảng 2.3 (Trang 110)                    Thực trạng phân bổ nguồn thu từ khai thác 
                                        khoáng sản tại địa phương (Điển cứu: Hà Giang)
----------------------------------------------------------------------------------------
Bảng 2.4 (Trang 125)                    So sánh chi phí quản lý thuế của Việt Nam với 
                                        một số quốc gia trên thế giới
----------------------------------------------------------------------------------------
Bảng 3.1 (Trang 150)                    Hệ thống các khoản thu nghĩa vụ tài chính trong 
                                        hoạt động khai thác khoáng sản
========================================================================================

Dữ liệu chứng minh: Cơ cấu thu thuế BVMT bị lệch pha nghiêm trọng khi nguồn thu từ xăng dầu chiếm tới trên 90% tổng số thu, trong khi các nhóm hàng hóa gây ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng khác như túi ni lông khó phân hủy, hóa chất bảo vệ thực vật thuộc nhóm hạn chế sử dụng chỉ chiếm tỷ trọng dưới 1 - 2%, phản ánh sự bất cập trong quy định về đối tượng chịu thuế và hiệu quả quản lý thu.


Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  • Phát hiện 1 (Khoảng trống đối tượng chịu thuế và xung đột thẩm quyền lập hiến): Pháp luật thực định chỉ quy định 8 nhóm hàng hóa chịu thuế BVMT là quá hẹp, bỏ sót các hành vi xả thải trực tiếp chất thải công nghiệp nguy hại, khí thải carbon và nước thải sản xuất. Đặc biệt, việc Luật Giao thẩm quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội xác định mức thuế suất cụ thể trong khung và bổ sung đối tượng chịu thuế bộc lộ điểm chưa tương thích với quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền hạn lập pháp tối cao của Quốc hội trong việc quyết định các nghĩa vụ tài chính của công dân.
  • Phát hiện 2 (Bất cập trong căn cứ tính thuế và cơ chế thuế suất tuyệt đối): Quy định mức thuế tuyệt đối (cố định bằng đồng/đơn vị sản phẩm) mà không có cơ chế điều chỉnh tự động theo chỉ số lạm phát làm suy giảm động lực điều chỉnh hành vi theo thời gian. Biên độ khung thuế suất quá rộng tạo sự tùy nghi trong áp dụng. Đối với túi ni lông đa phần thất thu ở khâu sản xuất nhỏ lẻ, buôn bán không hóa đơn do phương thức quản lý thuế còn nặng tính hành chính giấy tờ.
  • Phát hiện 3 (Nghịch lý điều tiết trong Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt): Đánh thuế TTĐB dựa trên số chỗ ngồi (chỉ đánh vào xe dưới 24 chỗ, không đánh vào xe trên 24 chỗ) là thiếu cơ sở khoa học về môi trường, vô hình trung khuyến khích gia tăng phương tiện cỡ lớn tiêu thụ nhiều nhiên liệu hóa thạch. Đồng thời, việc vẫn áp thuế TTĐB đối với xe ô tô điện và ô tô chạy bằng nhiên liệu sinh học chạy ngược lại xu thế khuyến khích phương tiện giao thông xanh của quốc tế. Ngoài ra, thuế đối với thuốc lá tại Việt Nam quá thấp, chưa tính đến gánh nặng ngoại tác sinh thái từ canh tác và rác thải đầu lọc thuốc lá.
  • Phát hiện 4 (Sự phân tán và thất thoát nguồn thu tài nguyên): Cơ chế chia sẻ nguồn thu thuế tài nguyên giữa Trung ương và địa phương (như nghiên cứu điển cứu tại Hà Giang) bộc lộ sự bất cập: địa phương chịu toàn bộ hệ lụy suy thoái môi trường nhưng nguồn thu giữ lại không đủ để bù đắp chi phí tái tạo sinh thái; toàn bộ tiền thu từ khoáng sản bị tiêu dùng cho ngân sách thường niên thay vì tích lũy vốn hóa.

Implications đa chiều

  • Về mặt lập pháp: Luận án cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ việc sửa đổi đồng bộ Luật Thuế Bảo vệ môi trường, Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt, Luật Thuế Tài nguyên và Luật Ngân sách Nhà nước. Đề xuất quy định mức thuế suất linh hoạt (kết hợp thuế suất tuyệt đối và thuế suất theo tỷ lệ phần trăm - ad-valorem) để triệt tiêu tác động của lạm phát.
  • Về mặt quản lý nhà nước: Đổi mới mô hình quản lý thuế thông qua chuyển đổi số và thiết lập cơ chế phối hợp chia sẻ dữ liệu liên ngành bắt buộc giữa Cơ quan Thuế và Bộ Tài nguyên và Môi trường (thay cho phương thức kiểm tra hành chính đơn lẻ).
  • Về mặt công bằng thế hệ: Kiến nghị sửa đổi Luật Ngân sách Nhà nước để thiết lập quy chế ngoại lệ tài khóa: trích lập tối thiểu 30-50% số thu từ tài nguyên khoáng sản không tái tạo để thành lập Quỹ Tài nguyên (Natural Resource Fund), vận hành độc lập với Quỹ Bảo vệ môi trường và Quỹ Bảo vệ phát triển rừng hiện có.

Limitations và Future Research

Luận án thừa nhận một số giới hạn nghiên cứu khách quan:

  1. Giới hạn chuỗi dữ liệu thực nghiệm: Dữ liệu tài chính định lượng chuyên sâu về số thu thuế chi tiết theo từng tiểu ngạch hàng hóa và chi phí hành chính thuế mới chỉ bao quát trọn vẹn giai đoạn 2011–2016; các giai đoạn sau 2016 chủ yếu được phân tích thông qua các chỉ số tổng hợp và báo cáo chuyên đề do hạn chế trong việc tiếp cận cơ sở dữ liệu nội bộ ngành thuế.
  2. Giới hạn mô hình hóa vi mô: Luận án tập trung tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý - kinh tế thể chế, chưa trực tiếp lượng hóa các hàm phản ứng vi mô (micro-econometric modeling) về độ co giãn của cầu hàng hóa ô nhiễm theo giá thuế tại thị trường Việt Nam.
  3. Phạm vi đối tượng phát thải: Luận án chưa đi sâu thiết kế chi tiết biểu thuế carbon trực tiếp cho từng ngành công nghiệp nặng (luyện kim, xi măng, hóa chất) do thị trường hạn ngạch phát thải tại Việt Nam thời điểm nghiên cứu vẫn đang trong giai đoạn chuẩn bị kỹ thuật.

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):

  • Ứng dụng phương pháp thực nghiệm kinh tế lượng vi mô để lượng hóa chính xác độ co giãn hành vi của người tiêu dùng đối với từng mặt hàng khi áp dụng thuế suất hỗn hợp.
  • Xây dựng khung pháp lý kết nối thị trường hạn ngạch phát thải khí nhà kính (ETS) với hệ thống thuế môi trường tại Việt Nam nhằm thực hiện cam kết Net Zero vào năm 2050 theo COP26.
  • Nghiên cứu mô hình tổ chức và cơ chế quản trị rủi ro tài chính của Quỹ Tài nguyên tại Việt Nam theo Bộ nguyên tắc Santiago của các Quỹ đầu tư quốc gia.

Tác động và ảnh hưởng

Nghiên cứu của NCS Đặng Kim Phương tạo ra những chuyển biến rõ nét trên nhiều chiều kích:

  • Tác động học thuật: Định hình một hướng nghiên cứu mới trong khoa học pháp lý kinh tế tại Việt Nam – tiếp cận hệ thống thuế môi trường chỉnh thể thay vì chia cắt từng đạo luật. Các kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo nền tảng cho các chương trình đào tạo sau đại học tại Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - ĐHQGHN và Học viện Khoa học Xã hội.
  • Tác động chính sách và lập pháp: Cung cấp cơ sở lý luận và thực chứng vững chắc cho Ủy ban Tài chính - Ngân sách và Ủy ban Pháp luật của Quốc hội trong các đợt giám sát chuyên đề về thu ngân sách môi trường; đóng góp trực tiếp vào Đề án Cải cách hệ thống thuế đến năm 2030 của Bộ Tài chính.
  • Tác động chuyển dịch kinh tế: Đề xuất miễn giảm thuế TTĐB cho xe điện và năng lượng sinh học đã đón đầu và củng cố căn cứ pháp lý cho các chính sách ưu đãi thúc đẩy ngành công nghiệp xe điện và chuyển đổi năng lượng xanh tại Việt Nam.

Đối tượng hưởng lợi


Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?

Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất là việc mở rộng Học thuyết Thuế PigouLý thuyết Cải cách Thuế Môi trường (ETR) trong điều kiện một nền kinh tế chuyển đổi định hướng xã hội chủ nghĩa. Luận án đã bác bỏ cách hiểu truyền thống coi thuế môi trường là một công cụ tăng thu ngân sách đơn thuần, chứng minh rằng bản chất cốt lõi của thuế môi trường là công cụ định hướng hành vi thông qua nội hóa chi phí ngoại tác. Luận án xây dựng luận điểm khoa học về "tính chỉnh thể của hệ thống thuế môi trường", tích hợp Thuế BVMT, Thuế Tài nguyên và Thuế TTĐB vào một hệ quy chiếu mục tiêu chung là bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

2. Điểm mới về phương pháp luận của công trình khi so sánh với các nghiên cứu trước đây?

So với nghiên cứu thiên về kinh tế học thuần túy của Bùi Đường Nghiêu (2006) hay nghiên cứu phân tích quy phạm đơn lẻ của Nguyễn Thị Huệ (2021), luận án này đã đổi mới phương pháp luận bằng cách thiết lập Khung phân tích Kinh tế học Pháp luật tích hợp 5 tiêu chí lượng giá. Phương pháp này không chỉ đánh giá điều luật dựa trên câu chữ mà đánh giá trực tiếp mối liên hệ giữa cấu trúc quy phạm pháp luật với chi phí tuân thủ của doanh nghiệp, chi phí quản lý của nhà nước và hiệu ứng chuyển dịch hành vi xã hội, sử dụng các số liệu thực chứng tài chính công để kiểm định mức độ hoàn thiện của quy phạm.

3. Phát hiện thực nghiệm nào gây bất ngờ nhất và luận giải khoa học ra sao?

Phát hiện bất ngờ nhất là nghịch lý điều tiết của Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt: việc không đánh thuế TTĐB đối với xe ô tô trên 24 chỗ ngồi và áp dụng tiêu chí số chỗ ngồi thay vì nồng độ phát thải đã vô tình tạo ra lỗ hổng khuyến khích gia tăng phương tiện cỡ lớn tiêu thụ nhiều năng lượng hóa thạch trong bối cảnh hạ tầng giao thông Việt Nam còn yếu kém. Đồng thời, việc duy trì đánh thuế TTĐB đối với xe ô tô điện đã triệt tiêu động lực chuyển đổi xanh của người tiêu dùng, đi ngược lại hoàn toàn với mục tiêu môi trường mà nhà nước đang hướng tới.

4. Luận án có cung cấp giao thức nhân rộng (Replication Protocol) hay không?

Luận án cung cấp bộ công cụ đánh giá chuẩn hóa gồm 5 tiêu chí hiệu quả kèm theo hệ thống các chỉ báo định lượng và định tính (mức suy giảm phát thải, chi phí quản lý thuế/doanh thu, tính ổn định trước lạm phát, mức độ công bằng phân phối). Giao thức này hoàn toàn có thể nhân rộng để đánh giá bất kỳ sắc thuế tài nguyên hay chính sách phí môi trường nào tại các quốc gia đang phát triển có bối cảnh thể chế tương đồng.

5. Lộ trình cải cách pháp luật 10 năm được luận án phác thảo như thế nào?

Luận án phác thảo lộ trình 2 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 (Ngắn và trung hạn - 5 năm đầu): Sửa đổi, hoàn thiện kỹ thuật lập pháp trong các luật hiện hành: đưa túi ni lông tự hủy và xe điện ra khỏi diện chịu thuế TTĐB; đưa thuốc lá và hóa chất nguy hại vào diện chịu thuế BVMT với mức thuế suất cao; bổ sung cơ chế tự động điều chỉnh thuế tuyệt đối theo CPI; thành lập Quỹ Tài nguyên.
  • Giai đoạn 2 (Dài hạn - 5 năm tiếp theo): Hợp nhất các quy định thuế liên quan đến sinh thái để ban hành một đạo luật toàn diện là Luật Thuế Môi trường, chuyển dần căn cứ tính thuế từ "đầu vào sản phẩm" sang "đo lường lượng xả thải trực tiếp đầu ra" (Direct Emission/Effluent Output Tax), tích hợp hoàn chỉnh với thị trường trao đổi tín chỉ carbon.

Kết luận

Luận án của NCS Đặng Kim Phương đã giải quyết trọn vẹn các mục tiêu nghiên cứu với 5 kết luận cốt lõi:

Công trình mở ra các dòng nghiên cứu chuyên sâu mới về pháp luật định giá carbon, quản trị tài khóa liên thế hệ và số hóa quản lý thuế sinh thái, để lại dấu ấn học thuật sâu sắc và giá trị ứng dụng thực tiễn bền vững cho công cuộc cải cách thể chế kinh tế môi trường tại Việt Nam.