Tổng quan luận án

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam" do tác giả Đặng Kim Phương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Hồng Hanh tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số 9380107, năm 2022). Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ 05 lý do cơ bản: Thứ nhất, công tác bảo vệ môi trường (BVMT) được quản lý thông qua nhiều công cụ, nhưng trong thực tiễn những năm qua, các công cụ hành chính và hình sự được sử dụng chủ yếu. Các công cụ hành chính, hình sự tuy có khả năng kiềm chế tác động tiêu cực nhưng không bù đắp được chi phí xã hội đã bỏ ra để khắc phục thiệt hại môi trường, đồng thời chỉ bảo đảm tác động trong chuẩn cho phép mà không khuyến khích đổi mới công nghệ sạch. Trong khi đó, việc thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, số phí thu được còn thấp; phí BVMT đối với chất thải rắn hầu như chưa triển khai; hạn ngạch (quota) ô nhiễm chưa áp dụng phổ biến do thiếu hướng dẫn cụ thể; chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES) mới thí điểm. Trước khi Luật Thuế BVMT năm 2010 được ban hành, các sắc thuế liên quan đến môi trường nằm rải rác trong nhiều luật (Thuế Giá trị gia tăng, Thuế Thu nhập doanh nghiệp, Thuế Sử dụng đất nông nghiệp, Thuế Sử dụng đất phi nông nghiệp, Thuế Xuất khẩu, Thuế Nhập khẩu) và không có mục tiêu chính là BVMT. Luật Thuế BVMT năm 2010 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2012) là bước tiến lớn nhưng thực tiễn thi hành vẫn bộc lộ nhiều khoảng trống. Thứ hai, ô nhiễm môi trường gây tổn thất kinh tế lớn; theo Ngân hàng Thế giới (WB), tổn thất do ô nhiễm môi trường tại Việt Nam có thể lên đến 5,5% GDP mỗi năm; nghiên cứu của Cục Y tế (Bộ Giao thông vận tải) chỉ ra thiệt hại kinh tế do ô nhiễm không khí tại Hà Nội là 66,33 triệu USD/năm và Thành phố Hồ Chí Minh là 70,96 triệu USD/năm. Môi trường rơi vào "bi kịch tài sản chung" do không khí, tiếng ồn không có thị trường và giá cả, dẫn đến việc bị khai thác quá mức. Thuế môi trường là công cụ nhằm nội hóa chi phí ngoại tác tiêu cực. Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển bền vững, rà soát hệ thống chính sách, pháp luật thuế môi trường bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và phù hợp với các điều ước quốc tế. Thứ tư, trong bối cảnh Việt Nam cắt giảm thuế quan theo cam kết quốc tế, thuế môi trường giúp bảo đảm ổn định nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN) thông qua việc đánh thuế vào "hành vi xấu" (gây ô nhiễm) thay vì "hành vi tốt" (sản xuất, kinh doanh, tạo thu nhập). Thứ năm, các khía cạnh pháp lý của công cụ thuế môi trường ở Việt Nam còn mới mẻ, chưa được phân tích đầy đủ và toàn diện.

  • Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu là làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về thuế môi trường và pháp luật thuế môi trường; đánh giá thực trạng lĩnh vực pháp luật này ở Việt Nam; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam. Luận án thực hiện 05 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về pháp luật thuế môi trường ở Việt Nam và thế giới, xác định định hướng nghiên cứu, xây dựng câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu;
  2. Nhận diện và phân tích các khía cạnh kinh tế, pháp lý của công cụ thuế môi trường;
  3. Nghiên cứu các trường phái, học thuyết để xây dựng cơ sở lý luận về pháp luật thuế môi trường;
  4. Nghiên cứu, đánh giá tính hiệu quả của các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến áp dụng công cụ thuế môi trường trên cơ sở lý luận đã xây dựng;
  5. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và xác định các yêu cầu, giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam.
  • Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu (đánh số theo văn bản):
  • Câu hỏi 1: Thuế môi trường là gì?
    • Giả thuyết 1: Thuế môi trường bao gồm các sắc thuế có liên quan đến việc BVMT.
    • Giả thuyết 2: Thuế môi trường bao gồm các sắc thuế có căn cứ tính thuế liên quan trực tiếp đến môi trường và có mục tiêu chính là BVMT.
  • Câu hỏi 2: Thuế BVMT quy định tại Luật Thuế BVMT năm 2010 của Việt Nam có được hiểu tương tự như thuế môi trường (environmental tax hay green tax) của các nước khác trên thế giới?
    • Giả thuyết 1: Thuế BVMT quy định tại Luật Thuế BVMT năm 2010 của Việt Nam được hiểu tương tự như thuế môi trường của các nước khác trên thế giới.
    • Giả thuyết 2 (văn bản ghi Giả thuyết 3): Thuế BVMT quy định tại Luật Thuế BVMT năm 2010 của Việt Nam có nội hàm hẹp hơn nhiều so với pháp luật thuế môi trường của các quốc gia khác.
  • Câu hỏi 3: Nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện của pháp luật thuế môi trường ở Việt Nam, giải pháp nào là cấp bách nhất trong giai đoạn hiện nay?
    • Giả thuyết 1: Khắc phục các bất cập của pháp luật thuế môi trường là giải pháp cần thực hiện ngay.
    • Giả thuyết 2: Đối với mỗi sắc thuế môi trường giải pháp cần thực hiện là khác nhau để đạt được hiệu quả.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan hệ pháp luật thuế môi trường và các quan hệ pháp luật khác liên quan đến việc nâng cao hiệu quả thực hiện công cụ thuế môi trường xét ở hai góc độ: (1) Thực trạng pháp luật thực định từ mức độ đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững; (2) Tình hình thực hiện pháp luật trên thực tế.
  • Phạm vi nghiên cứu: Các quy định pháp luật thuế môi trường và các quy định pháp luật khác có liên quan tại Việt Nam, bao gồm các quy định hướng dẫn của các cơ quan chức năng; cùng pháp luật về lĩnh vực này của một số nước trên thế giới được chọn lọc theo tiêu chí tương đồng và tính đại diện (OECD, EU, Pháp, Đức, Hà Lan, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản). Dữ liệu thực tiễn tập trung khảo sát các giai đoạn 2011-2016 và cập nhật đến năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

  • Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại: Luận án tổng quan các công trình trong và ngoài nước theo mức độ liên quan:
  1. Nhóm công trình lý luận về thuế môi trường và công cụ kinh tế:
  • Bùi Đường Nghiêu (chủ biên, 2006), sách chuyên khảo "Thuế môi trường" (Nxb Tài chính): Phân tích nguyên tắc xây dựng chính sách thuế BVMT, phân tích chi phí - lợi ích, mức ô nhiễm tối ưu xã hội, ngoại tác tích cực và tiêu cực;
  • Nguyễn Ngọc Ánh Đào (2013), luận án tiến sĩ "Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay" (Học viện Khoa học Xã hội): Tiếp cận thuế BVMT như một bộ phận của pháp luật môi trường, xác định 04 nguyên tắc áp dụng công cụ kinh tế (người gây ô nhiễm phải trả tiền, người hưởng thụ phải trả tiền, kích thích lợi ích kinh tế, sử dụng nguồn tài chính tập trung);
  • Nguyễn Thị Huệ (2021), luận án tiến sĩ "Pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay" (Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội): Tiếp cận pháp luật thuế BVMT theo nghĩa hẹp là một đạo luật riêng do Quốc hội ban hành;
  • Trần Vũ Hải (2009), bài viết "Một số vấn đề về việc ban hành Luật thuế môi trường ở Việt Nam" (Tạp chí Luật học, số 04): Phân định thuế môi trường theo nghĩa rộng (toàn bộ các khoản thuế liên quan đến môi trường như thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp) và nghĩa hẹp;
  • Nguyễn Lâm Trâm Anh và Võ Trung Tín (2014), bài viết "Thuế bảo vệ môi trường - Hình thức thực hiện nguyên tắc 'người gây ô nhiễm phải trả tiền' trong pháp luật môi trường" (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 16(272)): Phân tích nguyên tắc Polluter Pays Principle (PPP) và các hình thức trả tiền ở Việt Nam;
  • Bùi Xuân Phái (2016), luận án tiến sĩ "Chức năng quản lý môi trường của nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay" (Trường Đại học Luật Hà Nội);
  • Philippe Bontems và Gilles Rotillon (2008, người dịch Nguyễn Đôn Phước), sách "Kinh tế học môi trường" (Nxb Tri thức); Nguyễn Văn Phương (chủ biên, 2013), "Tập bài giảng Pháp luật môi trường trong kinh doanh" (Trường Đại học Luật Hà Nội); Nguyễn Ngọc Thanh, Trần Mạnh Kiên, Đỗ Gian Hảo (2012), Tạp chí Tài chính số 11; Tổng cục Môi trường (2011), Báo cáo "Thuế bảo vệ môi trường: Kinh nghiệm của một số nước và bài học cho Việt Nam".
  1. Nhóm công trình quốc tế về cải cách thuế môi trường (ETR):
  • Dirk Heine, John Norregaard và Ian W.H. Parry (2012), "Environmental tax reform: Principles from theory and practice to date" (IMF working paper): Nêu các nguyên tắc thiết kế thuế môi trường, cân bằng cơ hội giảm thải và tối thiểu hóa phức tạp hành chính;
  • Ralf Buckley (1991), "Green taxes: Legal and policy issues in using economic instruments for environmental management" (Revenue Law Journal): Phân loại thuế xanh thành 04 nhóm công cụ tài chính;
  • Withana et al. (2013), báo cáo "Evaluation of environmental tax reforms: International experiences" và phụ lục (IEEP): Phân tích thiết kế thuế carbon - năng lượng ở các nước OECD;
  • Báo cáo của Eunomia và IEEP (2016), "Study on assessing the environmental fiscal reform potential for the EU28"; ESCAP, bài viết "Green tax and budget reform (GTBR) in context"; Frank J. Sloan (1979), "Environment and the Law"; Roger W. Findley và Daniel A. Farber (1992), "Environmental law in a nutshell"; Stina Withana và Patrick ten Brink (2014); OECD (2011), "Taxation, Innovation and the Environment".
  1. Nhóm nghiên cứu về thực trạng và giải pháp tại Việt Nam:
  • Kai Schlegelmilch (2013), Hội thảo quốc tế Bộ Tài chính; Michael Rodi và Michael Mehling (2009), Tờ trình chính sách Dự án ETV2; Chu Hồi (2006), Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 01; Nguyễn Thị Mai Phương (2007), Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán số 06(47); Lê Thị Thảo và Nguyễn Quang Tuyến (2008), Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 13;

  • Phạm Lan Hương (2014), báo cáo "Đánh giá tác động kinh tế và môi trường của Luật Thuế bảo vệ môi trường tại Việt Nam" (chương trình GIZ tài trợ): Sử dụng mô hình cân bằng tổng thể (CGE) và mô-đun mô phỏng vi mô (MS) đánh giá tác động của Luật Thuế BVMT năm 2010 đối với GDP, ngành lọc dầu, phát thải CO2 và hộ gia đình.

  • Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết:

  • Chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể về thuế môi trường theo nghĩa rộng dưới góc độ khoa học pháp lý tại Việt Nam.
  • Lý luận về bản chất, nguyên tắc, cấu trúc và các yếu tố chi phối pháp luật thuế môi trường chưa được nghiên cứu một cách triệt để, hệ thống.
  • Chưa có hệ tiêu chí khoa học đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật thuế môi trường.
  • Thực trạng pháp luật và quản lý thuế môi trường ở Việt Nam chưa được phân tích thấu đáo về tính hiệu quả, chi phí quản lý thuế và cơ chế phối hợp liên ngành.
  • Các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế môi trường trước đây còn chung chung, thiếu tính hệ thống.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích: Luận án dựa trên các lý thuyết nền tảng:
  1. Lý thuyết về phát triển bền vững (Sustainable Development): Phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai;
  2. Lý thuyết về tăng trưởng xanh (Green Growth): Tái cơ cấu mô hình kinh tế, áp dụng công nghệ sạch, giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng hiệu quả tài nguyên;
  3. Các lý thuyết về thuế, tiêu biểu là lý thuyết thuế - đoàn kết: Thuế là công cụ phân phối lại, tính đến khả năng đóng góp của người nộp và bảo đảm tính chính đáng xã hội;
  4. Lý thuyết về sự phù hợp giữa pháp luật và yêu cầu cuộc sống: Dựa trên mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng;
  5. Lý thuyết kinh tế học pháp luật (Law and Economics / Kinh tế luật): Dự đoán hành vi của chủ thể pháp luật dưới tác động của quy phạm pháp luật, phân tích tối đa hóa lợi ích và chi phí tuân thủ;
  6. Nguyên tắc đánh thuế Pigou (Arthur C. Pigou) và lý thuyết ngoại tác: Nội hóa chi phí ngoại tác tiêu cực do ô nhiễm môi trường vào giá thành sản phẩm tại mức sản lượng tối ưu xã hội.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:
  • Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật;
  • Phương pháp phân tích: Làm rõ khía cạnh lý luận và thực tiễn của quy phạm pháp luật;
  • Phương pháp so sánh luật học: Làm sáng tỏ tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và các quốc gia (OECD, EU, Pháp, Đức, Hà Lan, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ, Nhật Bản);
  • Phương pháp tổng hợp và bình luận: Đánh giá ưu điểm, hạn chế và đề xuất giải pháp;
  • Phương pháp kinh tế học pháp luật: Phân tích động cơ, chi phí và lợi ích của các chủ thể xuyên suốt luận án;
  • Phương pháp phân tích thống kê: Xử lý dữ liệu thu ngân sách và chi phí quản lý thuế.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu: Hệ thống văn bản luật của Việt Nam (Hiến pháp năm 2013, Luật Thuế BVMT năm 2010, Luật Thuế Tài nguyên, Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt, Luật Quản lý thuế, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước, các nghị định số 67/2011/NĐ-CP, 69/2012/NĐ-CP, 19/2015/NĐ-CP); các chiến lược quốc gia (Quyết định số 432/QĐ-TTg, Quyết định số 1393/QĐ-TTg); dữ liệu thống kê của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan giai đoạn 2011-2016; các báo cáo và tài liệu của Ngân hàng Thế giới, IMF, OECD, Eurostat, ONS, GIZ, IEEP.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về thuế môi trường và hiệu quả thực hiện pháp luật:

  • Khái niệm và đặc điểm: Thuế môi trường (thuế xanh, thuế sinh thái) là các sắc thuế có căn cứ tính thuế liên quan trực tiếp đến môi trường và có mục tiêu là BVMT. Luận án xác định 05 đặc điểm: (1) Tính đa dạng cao (xuất phát từ tính đa dạng của thành tố môi trường và sự tác động nhiều chiều); (2) Tính định hướng hành vi (đánh vào "hành vi xấu"); (3) Tính hai mục tiêu (BVMT và tạo nguồn thu NSNN); (4) Tính chuyên biệt về đối tượng và căn cứ tính thuế; (5) Tính phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội.
  • Nguyên tắc, cấu trúc và yếu tố chi phối: Pháp luật thuế môi trường dựa trên các nguyên tắc: người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP), người hưởng lợi phải trả tiền, công bằng, hiệu quả kinh tế - môi trường, minh bạch và ổn định tương đối. Cấu trúc gồm pháp luật nội dung (đối tượng chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ tính thuế, thuế suất) và pháp luật quản lý thuế (thủ tục, giám sát, tuân thủ, xử lý vi phạm). Các yếu tố chi phối gồm thể chế chính trị, trình độ kinh tế, hạ tầng công nghệ, nhận thức xã hội và cam kết quốc tế.
  • Khung tiêu chí đánh giá hiệu quả: Luận án xác lập 05 tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật thuế môi trường:
  1. Tiêu chí bảo vệ môi trường (giảm phát thải GHG, tiết kiệm năng lượng hóa thạch - Hình 1.1a, Hình 1.1b);
  2. Tiêu chí hiệu quả kinh tế (phân bổ nguồn lực, tác động tăng trưởng);
  3. Tiêu chí đơn giản (thủ tục rõ ràng, dễ thực thi);
  4. Tiêu chí ổn định tương đối (khung pháp lý có tính dự báo);
  5. Tiêu chí công bằng xã hội (gánh nặng thuế phân bổ hợp lý giữa các nhóm dân cư và thế hệ).
  • Mối quan hệ giữa hoàn thiện pháp luật và hiệu quả thực hiện: Hoàn thiện pháp luật là tiền đề nâng cao hiệu quả thực thi, và thực tiễn thực thi cung cấp căn cứ để tiếp tục sửa đổi pháp luật.

Chương 2: Đánh giá thực trạng pháp luật thuế môi trường ở Việt Nam với yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện

Chương 2 phân tích thực trạng pháp luật thuế môi trường tại Việt Nam theo cấu trúc pháp luật và hệ tiêu chí đã xác lập:

  • Đánh giá pháp luật nội dung:
  • Đối tượng chịu thuế, người nộp thuế: Luật Thuế BVMT năm 2010 chỉ quy định 08 nhóm hàng hóa chịu thuế, chưa bao quát các nguồn phát thải lớn và hóa chất nguy hại khác. Thẩm quyền giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội xác định đối tượng chịu thuế chưa hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp năm 2013. Các quy định về đối tượng chịu thuế chưa đồng bộ với Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước, pháp luật thuốc bảo vệ thực vật. Về thuế tiêu thụ đặc biệt: việc chỉ đánh thuế vào xe ô tô dưới 24 chỗ ngồi vô hình trung khuyến khích sử dụng xe trên 24 chỗ, làm tăng tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch; thuế suất thuốc lá còn thấp; vẫn đánh thuế tiêu thụ đặc biệt vào xe ô tô điện và xe chạy năng lượng sinh học.
  • Căn cứ tính thuế và thuế suất: Biên độ khung thuế suất thuế BVMT quá rộng nhưng thiếu lộ trình điều chỉnh cụ thể; thuế suất đối với túi ni lông chưa đủ mức thay đổi hành vi; tính thuế theo mức tuyệt đối dễ bị suy giảm giá trị do lạm phát. Nguồn thu từ thuế tài nguyên còn nhiều biến động (Bảng 2.2); việc phân bổ nguồn thu từ khoáng sản tại địa phương (ví dụ tỉnh Hà Giang - Bảng 2.3) còn hạn chế.

Dưới đây là các bảng số liệu thực tế được tổng hợp trong luận án:

Ký hiệu bảng Tên bảng số liệu trong luận án Nội dung dữ liệu phản ánh
Bảng 2.1 Số thu thuế BVMT chi tiết theo các nhóm hàng hóa từ năm 2012 đến năm 2016 Thống kê số thu thực tế từ xăng dầu, than đá, túi ni lông, HCFC và thuốc BVTV qua các năm (trang 99).
Bảng 2.2 Tỷ lệ thu thuế tài nguyên so với GDP và thu NSNN giai đoạn 2011 - 2016 Phản ánh biến động tỷ trọng nguồn thu thuế tài nguyên trong cơ cấu kinh tế và ngân sách (trang 107).
Bảng 2.3 Phân bổ nguồn thu từ khai thác khoáng sản tại tỉnh Hà Giang Số liệu điều tiết nguồn thu từ khoáng sản giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương (trang 110).
Bảng 2.4 Chi phí quản lý thuế của một số quốc gia So sánh chi phí hành chính và quản lý thuế của Việt Nam với các nước (trang 125).
  • Đánh giá pháp luật quản lý thuế:
  • Thủ tục hành chính: Thủ tục quản lý thuế môi trường chưa tối ưu hóa cho mục tiêu BVMT; chi phí quản lý thuế còn cao (Bảng 2.4).
  • Giám sát và bảo đảm tuân thủ: Thiếu cơ chế phối hợp chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa cơ quan thuế và ngành tài nguyên - môi trường, hải quan, công an; dẫn đến tình trạng thất thoát nguồn thu từ khoáng sản và trốn thuế (Hình 1.2).

Chương 3: Một số yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam

Chương 3 đề xuất các yêu cầu và giải pháp cụ thể:

  • Các yêu cầu đối với việc hoàn thiện:
  1. Thể chế hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển bền vững và tăng trưởng xanh;
  2. Bảo đảm tính hiệu quả, tính thống nhất của pháp luật thuế môi trường trong hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;
  3. Đáp ứng các cam kết quốc tế của Việt Nam về bảo vệ môi trường thông qua sử dụng các công cụ kinh tế (cam kết NDCs, giảm phát thải khí nhà kính).
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về nội dung:
  • Mở rộng đối tượng chịu thuế BVMT đối với hóa chất độc hại, khí phát thải lớn, bao bì nhựa dùng một lần;
  • Điều chỉnh căn cứ tính thuế và tăng thuế suất thuế BVMT đối với túi ni lông thuộc diện chịu thuế để đủ sức răn đe;
  • Hoàn thiện Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt: Tăng thuế suất đối với thuốc lá và tiến tới đưa thuốc lá vào diện chịu thuế BVMT; bãi bỏ quy định đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe ô tô chạy bằng điện và xe ô tô chạy bằng năng lượng sinh học;
  • Hoàn thiện cơ chế thu trong khai thác khoáng sản (Bảng 3.1: Các khoản thu trong khai thác khoáng sản, trang 150) và đề xuất sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước để thành lập "Quỹ Tài nguyên" nhằm quản lý nguồn thu từ tài nguyên không tái tạo, phòng ngừa cú sốc giá cả và dành nguồn lực cho các thế hệ tương lai.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế:
  • Đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế, hiện đại hóa công tác thu nộp thuế;
  • Thiết lập cơ chế phối hợp liên thông dữ liệu bắt buộc giữa cơ quan thuế và các cơ quan quản lý tài nguyên, môi trường, hải quan;
  • Tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm soát thất thoát nguồn thu và nâng mức xử phạt hành vi vi phạm pháp luật thuế môi trường.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp mới về lý luận:
  • Xây dựng và chuẩn hóa khái niệm thuế môi trường theo nghĩa rộng dưới góc độ khoa học pháp lý: Thuế môi trường là các sắc thuế có căn cứ tính thuế liên quan trực tiếp đến môi trường và có mục tiêu là BVMT;
  • Luận giải có hệ thống 05 đặc điểm, nguyên tắc, cấu trúc pháp luật nội dung và quản lý thuế môi trường, cùng các yếu tố chi phối;
  • Xây dựng hệ thống 05 tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật thuế môi trường (tiêu chí BVMT, hiệu quả kinh tế, đơn giản, ổn định tương đối, công bằng xã hội);
  • Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hoàn thiện pháp luật và hiệu quả thực hiện pháp luật thuế môi trường.
  • Đóng góp mới về thực tiễn và giải pháp:
  • Đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật nội dung và quản lý thuế môi trường tại Việt Nam giai đoạn 2011-2016 và các năm tiếp theo dựa trên hệ tiêu chí khoa học, kết hợp so sánh với thông lệ quốc tế;
  • Đề xuất sửa đổi danh mục đối tượng chịu thuế BVMT, điều chỉnh thuế suất túi ni lông, đưa thuốc lá vào diện chịu thuế BVMT;
  • Đề xuất bãi bỏ thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô điện và ô tô chạy bằng năng lượng sinh học nhằm khuyến khích tiêu dùng xanh;
  • Đề xuất sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước để thành lập "Quỹ Tài nguyên" nhằm quản lý nguồn thu từ khoáng sản phục vụ phát triển bền vững;
  • Đề xuất các giải pháp cụ thể nâng cao hiệu lực quản lý thuế, cải cách thủ tục hành chính và tăng cường phối hợp liên ngành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Luận án tập trung tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên ngành Luật Kinh tế, chưa tiến hành mô hình hóa định lượng dài hạn đối với các kịch bản biến động thuế suất; chưa tích hợp sâu lý thuyết khoa học hành vi để khảo sát thực nghiệm trên diện rộng đối với tâm lý và thói quen tiêu dùng của từng nhóm dân cư khi chính sách thuế thay đổi.

  • Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Nghiên cứu định lượng dài hạn tác động của các chính sách cải cách thuế môi trường đối với mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050 của Việt Nam;
  • Nghiên cứu ứng dụng khoa học hành vi trong việc thiết kế cơ chế chính sách thuế nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:
  • Các cơ quan xây dựng chính sách, lập pháp (Quốc hội, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tư pháp): Cung cấp cơ sở khoa học để sửa đổi, bổ sung Luật Thuế BVMT, Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt, Luật Thuế Tài nguyên, Luật Ngân sách nhà nước;
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Luật Kinh tế, Luật Môi trường, Kinh tế tài chính: Tài liệu tham khảo về khung lý luận công cụ kinh tế trong BVMT, hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả pháp luật và phương pháp kinh tế học pháp luật;
  • Cơ quan quản lý thuế và doanh nghiệp: Hỗ trợ nhận diện cơ chế vận hành chính sách thuế môi trường, nâng cao mức độ tuân thủ pháp luật và định hướng đầu tư công nghệ thân thiện với môi trường.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án định nghĩa "thuế môi trường" theo nghĩa rộng như thế nào? Trả lời: Thuế môi trường được hiểu là các sắc thuế có căn cứ tính thuế liên quan trực tiếp đến môi trường và có mục tiêu là BVMT. Khái niệm này bao gồm Luật Thuế BVMT năm 2010, Luật Thuế Tài nguyên và các quy định có mục tiêu BVMT trong Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt.

  2. Hệ 05 tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật thuế môi trường gồm những tiêu chí nào? Trả lời: Gồm: (1) Tiêu chí về bảo vệ môi trường; (2) Tiêu chí hiệu quả kinh tế; (3) Tiêu chí đơn giản; (4) Tiêu chí ổn định tương đối; (5) Tiêu chí công bằng xã hội.

  3. Tại sao tác giả đề xuất bãi bỏ thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô chạy điện và ô tô chạy bằng năng lượng sinh học? Trả lời: Vì thuế tiêu thụ đặc biệt nhằm hạn chế tiêu dùng sản phẩm gây hại cho sức khỏe và môi trường. Ô tô điện và ô tô chạy bằng năng lượng sinh học là phương tiện thân thiện với môi trường, việc bãi bỏ thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các loại xe này nhằm khuyến khích đổi mới công nghệ và kích cầu tiêu dùng xanh.

  4. Đề xuất thành lập Quỹ Tài nguyên nhằm mục đích gì và cần sửa đổi văn bản luật nào? Trả lời: Quỹ Tài nguyên nhằm quản lý tập trung các khoản thu từ khai thác tài nguyên không tái tạo, hạn chế các cú sốc biến động giá cả và tạo nguồn lực tài chính cho các thế hệ tương lai. Để thành lập quỹ, cần bổ sung quy định về ngoại lệ đối với khoản thu từ khoáng sản trong Luật Ngân sách nhà nước.

  5. Những bất cập chính về đối tượng chịu thuế của Luật Thuế BVMT năm 2010 được chỉ ra là gì? Trả lời: Diện đối tượng chịu thuế còn hẹp (chỉ gồm 08 nhóm hàng hóa); thẩm quyền giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội xác định đối tượng chịu thuế chưa hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp năm 2013; và chưa bảo đảm tính đồng bộ với Luật Khoáng sản, Luật Tài nguyên nước, pháp luật thuốc bảo vệ thực vật.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đặng Kim Phương là công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật thuế môi trường tại Việt Nam theo chuyên ngành Luật Kinh tế. Luận án đã xây dựng khung lý luận toàn diện với 05 tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện, chỉ rõ các bất cập trong pháp luật thực định và thực tiễn quản lý thuế giai đoạn 2011-2016. Hệ thống các giải pháp lập pháp được đề xuất—từ mở rộng đối tượng chịu thuế BVMT, miễn thuế tiêu thụ đặc biệt cho phương tiện xanh, đến thành lập Quỹ Tài nguyên—cung cấp cơ sở khoa học phục vụ quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phát triển bền vững ở Việt Nam.