Chương 1: Cơ sở lý lý thuyết Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và kiến nghị Luan van 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) 1. Khái niệm Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility - CSR), theo chuyên gia của Ngân hàng thế giới được hiểu là “Cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng,… theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”.58) cho rằng: “CSR là nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến”. Những người theo quan điểm này lập luận rằng doanh nghiệp không có trách nhiệm với xã hội bởi doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động kinh doanh đã phải đóng thuế cho nhà nước và vì vậy, doanh nghiệp chỉ có trách nhiệm với cổ đông và người lao động của doanh nghiệp mà thôi. Nếu trường phái trên cho rằng trách nhiệm duy nhất của các doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận tối đa cho các cổ đông, thì ngày càng nhiều người đồng thuận với Liên minh Châu Âu khi cho rằng doanh nghiệp phải quan tâm đến các cá nhân và các nhóm có thể bị tác động bởi hoạt động của doanh nghiệp hoặc có thể ảnh hưởng tới các hoạt động của doanh nghiệp.
Trong trường hợp này, doanh nghiệp được gán cho vai trò làm thỏa mãn mọi thành phần có liên quan và trở thành nơi phân định cáclợi ích khác nhau cho các thành phần có liên quan đó. Yêu cầu này có thể lớn hoặc nhỏ tùy theo các thành phần được xem xét: có những thành phần mà doanh nghiệp có các mối quan hệ khế ước (những người lao động, những nhà cung ứng, các khách hàng…), và những thành phần mà doanh nghiệp không có bất cứ mối quan hệ giao ước nào (các nhóm lợi ích khác nhau, chẳng hạn những người sống gần nơi hoạt động của doanh nghiệp hoặc những người bảo vệ thiên nhiên). Mỗi tổ chức, doanh nghiệp, chính phủ nhìn nhận CSR dưới những góc độ và quan điểm riêng, phụ thuộc vào điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển của mình. 312 - 313) đưa ra một khái niệm khá rộng: “CSR là sự quan tâm và Luan van 7 phản ứng của doanh nghiệp đối với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ”.
Theo Carroll (1979, tr.500), CSR đã được phát triển vào đầu những năm 1930. CSR có thể được định nghĩa là xử lý các bên liên quan của doanh nghiệp có đạo đức hoặc trong một cách có trách nhiệm. CSR là một khái niệm theo đó các tổ chức xem xét lợi ích của xã hội bằng cách chịu trách nhiệm về tác động của các hoạt động của mình đối với các bên liên quan cũng như môi trường có đạo đức hoặc trong một cách có trách nhiệm. CSR là một khái niệm theo đó các tổ chức xem xét lợi ích của xã hội bằng cách chịu trách nhiệm về tác động của các hoạt động của mình đối với các bên liên quan cũng như môi trường.
Một số nhà nghiên cứu khác, đại diện là Carroll và Bowen (1991) cũng khẳng định CSR là sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Những người theo quan điểm này nghiêng về quan điểm cho rằng các doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh doanh tại thị trường nào đó, họ đã sử dụng nguồn lực của xã hội, khai thác nguồn lực tự nhiên và trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh, họ gây ra không ít tổn hại đối với môi trường tự nhiên và xã hội. Vì lẽ đó, ngoài việc đóng thuế, doanh nghiệp còn phải có trách nhiệm xã hội với môi trường, cộng đồng và người lao động. Kim tự tháp CSR được Carroll công bố vào năm 1991 (Carroll, A.42) và trở thành công cụ được sử dụng rộng rãi.
Ông khẳng định rằng: “CSR chỉ có thể trở thành hiện thực nếu các nhà quản lý trở nên có đạo đức hơn thay vì thiếu đạo đức hoặc không có đạo đức”. Theo đó 4 cấp độ của kim tự tháp này lần lượt là: trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm về từ thiện. Kim tự tháp mô tả một trật tự các trách nhiệm cùng nhau tạo nên CSR: Kinh tế: Hình thành nền tảng của kim tự tháp, đề cập đến việc tạo ra lợi nhuận. Trách nhiệm của doanh nghiệp là giữ chi phí ở mức tối thiểu, tối đa hóa doanh thu, đầu tư phát triển kinh doanh và trả cổ tức cho chủ sở hữu và/ hoặc các cổ đông.
Có trách nhiệm về mặt kinh tế cũng có nghĩa là doanh nghiệp có thể tạo ra và duy trì công ăn việc làm trong cộng đồng, đóng góp sản phẩm, dịch vụ hữu ích, không gây hại cho xã hội. Luan van 8 Pháp lý: Đây là yêu cầu tối thiểu đối với một doanh nghiệp: tuân thủ pháp luật. Ở nhiều quốc gia, điều này có nghĩa là trung thực về những sản phẩm hoặc dịch vụ bán ra, giữ an toàn cho nhân viên và khách hàng, không phá hủy môi trường và đóng thuế. Ít nhất, đó là bảo vệ tổ chức tránh khỏi việc bị phạt hoặc truy tố ảnh hưởng đến lợi nhuận và danh tiếng của công ty thậm chí dẫn đến phá sản.
Đạo đức: Điều này mở rộng nghĩa vụ của doanh nghiệp, thực hiện những việc đúng đắn và công bằng, ngay cả khi không bắt buộc phải tuân theo luật pháp. Từ thiện: Đây là trách nhiệm cao nhất, vượt xa mọi kỳ vọng. Trách nhiệm này đề cập đến việc tích cực cải thiện thế giới xung quanh. Ví dụ: Khuyến khích nhân viên trong tổ chức tham gia các chương trình thiện nguyện, tài trợ cho sáng kiến cộng đồng, cung cấp, tư vấn kiến thức chuyên môn cho những tổ chức phi lợi nhuận.
TRÁCH NHIỆM TỪ THIỆN Là một doanh nghiệp có ý thức trong tham gia vào các chương trình thúc đẩy phúc lợi xã hội TRÁCH NHIỆM ĐẠO ĐỨC Các tổ chức kinh doanh cần hướng đến những hành động đúng đắn, công bằng, cho dù chúng không được quy định trong pháp luật TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ Tuân thủ luật pháp. Theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ của pháp luật Luan van 9 TRÁCH NHIỆM KINH TẾ Tạo ra lợi nhuận. Là mục tiêu chính của các tổ chức kinh doanh trong sản xuất hàng hóa, dịch vụ cho xã hội Hình 1. 1: Kim tự tháp trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp của Carroll (Nguồn: Carroll 1991, tr.42) Bên cạnh đó, Carroll cũng cho rằng CSR còn có phạm vi lớn hơn “là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức, và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định”.597) đã lập luận rằng “CSR là nghĩa vụ của tổ chức để tối đa hóa những tác động tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cực trở thành một thành viên đóng góp cho xã hội”.
Mohr, Webb và Harris (2001) xác định trách nhiệm xã hội như “cam kết của doanh nghiệp trong việc giảm thiểu hoặc loại bỏ bất kỳ tác động có hại và tối đa hóa tác động có lợi lâu dài của nó đối với xã hội”. Các tác giả đề cập đến hành vi trách nhiệm xã hội bao gồm một loạt các hành động, chẳng hạn như hành xử có đạo đức, hỗ trợ cho các tổ chức phi lợi nhuận, ứng xử với nhân viên một cách công bằng và giảm thiểu thiệt hại cho môi trường. Theo Matten và Moon (2004): “CSR là một khái niệm chung bao gồm nhiều khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, tính bền vững và trách nhiệm môi trường. Đó là một khái niệm động và luôn được thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”.
Như vậy, bản chất của CSR là quan điểm về vai trò của doanh nghiệp trong mối tương quan với vai trò của nhà nước khiến khái niệm CSR luôn biến đổi, luôn mới tùy thuộc không những phạm vi không gian mà còn thời gian nơi cuộc tranh luận về CSR diễn ra. Theo EK (2006) (Trần Xuân Quang, 2014, tr.8), CSR được định nghĩa là trách nhiệm hoạt động, bắt nguồn từ những giá trị của doanh nghiệp, mục tiêu và các hoạt động của các bên liên quan. CSR được xây dựng trên nguyên tắc kinh tế, môi trường và xã hội. Mục đích là để thực hiện phát triển bền vững của doanh nghiệp một cách tự nguyện.
Ủy ban Châu Âu (2006) đã đề xuất một định nghĩa tương Luan van 10 đương về trách nhiệm xã hội như là "Một khái niệm theo đó các doanh nghiệp tích hợp vấn đề xã hội và môi trường trong hoạt động kinh doanh của họ và trong sự tương tác của họ với các bên liên quan trên cơ sở tự nguyện". Cả hai khái niệm nhấn mạnh tầm quan trọng của sự đóng góp tự nguyện của doanh nghiệp, hợp tác với các bên liên quan, các vấn đề xã hội và môi trường. Thông qua CSR, mọi doanh nghiệp có thể thúc đẩy doanh nghiệp của mình thực hiện các chiến lược dài hạn nhằm giúp xây dựng (hoặc xây dựng lại) lòng tin của người tiêu dùng với doanh nghiệp, và để từ đó đáp ứng nhu cầu pháttriển kinh tế bền vững và kỳ vọng của khách hàng. Thực hiện CSR có thể dung hòa những tham vọng kinh tế, xã hội và môi trường, CSR đã dần dần trở thành một khái niệm quan trọng trên toàn cầu.
Ngày nay, CSR ngày càng trở nên phổ biến. Nhưng vẫn có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm, nội dung và phạm vi của CSR. Trong số đó, mô hình kim tự tháp” của Carroll (1991) có tính toàn diện và được sử dụng rộng rãi nhất. Các doanh nghiệp có thể thực hiện trách nhiệm xã hội của mình bằng cách đạt một chứng chỉ quốc tế hoặc áp dụng những bộ quy tắc ứng xử (Code of Conduct – COC).
Trách nhiệm xã hội là nghĩa vụ mà một doanh nghiệp phải thực hiện đối với xã hội. Có trách nhiệm với xã hội là tăng đến mức tối đa các tác dụng tích cực và giảm tới tối thiểu các hậu quả tiêu cực đối với xã hội. Ngoài ra, vào năm 2010, tổ chức Tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) đã phát hành một bộ tiêu chuẩn tự nguyện nhằm giúp các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội.