CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.1 Những vấn đề cơ bản về CSR 1.1 Khái niệm CSR Thuật ngữ trách nhiệm xã hội được chính thức định hình lần đầu vào năm 1953 khi H.R Bowen công bố cuốn sách của mình với nhan đề “ Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại mà các doanh nghiệp ra cho xã hội. Đến năm 1999, Archie Carroll đã đưa ra khái niệm như sau: “Trách nhiệm xã hội là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở mỗi doanh nghiệp trong những thời điểm nhất định”. Theo đó, mô hình kim tự tháp về trách nhiệm xã hội được xây dựng như sau: Hình 1.1 Mô hình kim tự tháp Trách nhiệm kinh tế: đây là trách nhiệm đầu tiên. Các mục tiêu như tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả và tăng trưởng là điều kiện tiên quyết bởi lẽ đây là mục tiêu tối thượng của doanh nghiệp.
Mục tiêu kinh tế không được thỏa mãn thì doanh nghiệp cũng không thể tồn tại để đáp ứng các trách nhiệm khác. Các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp. 123doc 8 Trách nhiệm tuân thủ pháp luật: chính là sự cam kết của doanh nghiệp với xã hội. Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều nằm trong khuôn khổ pháp luật.
Trong quá trình tìm kiếm các mục tiêu kinh tế, doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh của luật pháp. Do đó, trách nhiệm kinh tế và pháp lý là hai thành tố cơ bản, không thể thiếu của doanh nghiệp. Trách nhiệm đạo đức: là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa được đưa vào văn bản luật. Việc doanh nghiệp tuân thủ pháp luật là sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra.
Xã hội kỳ vọng doanh nghiệp thực hiện các hoạt động có lợi ích cho xã hội hơn cả những điều quy định trong luật pháp. Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện nhưng lại chính là trọng tâm của trách nhiệm xã hội. Trách nhiệm từ thiện: là những hành vi của doanh nghiệp vượt ra ngoài sự trông đợi của xã hội, như quyên góp xây nhà tình nghĩa, ủng hộ đồng bào lũ lụt, tài trợ cho trẻ em vùng sâu vùng xa…Điểm khác biệt giữa trách nhiệm từ thiện và đạo đức là doanh nghiệp hoàn toàn tự nguyện. Nếu doanh nghiệp không thực hiện đến mức độ này vẫn được coi là đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội trông đợi.
Mặc dù có tính toàn diện và khả thi cao được sử dụng làm khung tiêu chuẩn cho doanh nghiệp và từng được sử dụng rộng rãi nhưng cách diễn đạt này khiến người ta có thể hiểu rằng để phấn đấu được thực hiện nghĩa vụ ở cấp cao hơn thì doanh nghiệp phải thỏa mãn được cấp thấp hơn trước và có sự phân biệt rạch ròi giữa đạo đức và từ thiện giữa nghĩa vụ kinh tế và nghĩa vụ pháp lý. Tuy nhiên nếu nhìn vấn đề ở các khía cạnh khác nhau thì các yếu tố trên vẫn lồng ghép và tồn tại song song với nhau. Theo quan niệm của Cộng đồng Châu Âu, đó là “việc doanh nghiệp cân nhắc các yếu tố môi trường và xã hội trong các hoạt động kinh doanh của mình và trong quan hệ qua lại với các bên hữu quan dựa trên tinh thần tự nguyện” (EC, 2003). Nhóm Phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng Thế giới (WB): “CRS là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những 123doc 9 việc làm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên trong gia đình họ; cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”… Hay Kotler và Lee (2005, trang 3) xác định CSR là "cam kết cải thiện phúc lợi của cộng đồng thông qua các hoạt động kinh doanh tùy ý và sự đóng góp của các nguồn lực doanh nghiệp".
Aguilera và cộng sự (2007) sử dụng định nghĩa về (CSR) trong đó đề cập đến "những cân nhắc và đáp ứng của các vấn đề vượt ra ngoài các yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật, và pháp lý hẹp để hoàn thành lợi ích xã hội và môi trường cùng với lợi ích kinh tế truyền thống ". Tóm lại, dù cách thể hiện, hình thức diễn đạt ngôn từ có khác nhau, song nội hàm phản ánh của CSR về cơ bản đều có điểm chung là, bên cạnh những lợi ích phát triển riêng của từng doanh nghiệp phù hợp với pháp luật hiện hành thì đều phải gắn kết với lợi ích phát triển chung của cộng đồng xã hội, tuy nhiên các hoạt động này phải được thực hiện trên tinh thần tự nguyện. Khi cạnh tranh thương trường ngày càng khốc liệt, những yêu cầu, đòi hỏi từ khách hàng ngày càng cao và do vậy, xã hội có cái nhìn ngày càng khắt khe hơn đối với doanh nghiệp về bổn phận, trách nhiệm trước cộng đồng, xã hội thì các doanh nghiệp muốn phát triển bền vững phải luôn tuân thủ không chỉ những chuẩn mực về bảo đảm sản xuất - kinh doanh phải có lợi nhuận, mà còn cả những chuẩn mực về bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường lao động, về thực hiện bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, quyền lợi đào tạo và phát triển của nhân viên, góp phần phát triển cộng đồng, bao hàm cả các hoạt động thực hiện an sinh xã hội như nhân đạo, từ thiện.2 Lợi ích từ việc thực hiện CSR So với các quan điểm chống lại việc thực hiện trách nhiệm xã hội, hoạt động kinh doanh có trách nhiệm không nhất thiết phải làm suy yếu động cơ lợi nhuận của công ty. Trong thực tế, nhiều CEO hiện nay mô tả việc thực hiện trách nhiệm như chủ nghĩa thực 123doc 10 dụng - nó tạo ra những doanh nghiệp nhận thức tốt.
Một chiến lược CSR thực hiện tốt có thể tạo ra một chuỗi các lợi ích, trong đó có việc thu hút và giữ chân khách hàng, xác định và quản lý rủi ro danh tiếng, thu hút người lao động chất lượng tốt nhất, và cắt giảm chi phí.1 Bảo vệ danh tiếng, hình ảnh, thương hiệu doanh nghiệp Xuất phát từ nguồn gốc của CSR, một doanh nghiệp nên quan tâm đến những điều khác nhiều hơn ngoài lợi nhuận nếu doanh nghiệp đó muốn bảo vệ danh tiếng của mình và hơn thế nữa để gia tăng lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Thực tế đã chứng minh, nhiều tập đoàn đa quốc gia đã phải chịu sự chỉ trích nặng nề của công chúng và khách hàng, bị giảm sút hình ảnh của mình khi cho rằng CSR và danh tiếng công ty chẳng có gì quan trọng cả. Như Berkshire Hathaway CEO Warren Buffett đã từng lưu ý, “Phải mất 20 năm để xây dựng uy tín và năm phút để hủy hoại nó”. Ví dụ trong trường hợp này Nike từng bị chỉ trích dữ dội vì sử dụng lao động trẻ em (1990) hay vào năm 2011 hàng loạt công nhân ở Indonesia đã đình công vì phải làm việc với điều kiện hết sức oi bức nhưng họ chỉ nhận được đồng lương rẻ mạt trong khi đó Nike bán giày hàng hiệu với giá từ vài chục đến hàng trăm USD/đôi.
Càng đáng chê trách hơn khi hãng này trả công cho những ngôi sao thể thao đại diện cho sản phẩm như Tiger Woods hàng trăm triệu USD cho một hợp đồng quảng cáo, và số tiền này còn có thể tăng lên phụ thuộc vào doanh số bán hàng. Những bê bối này đã làm ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của Nike buộc Nike phải thức tỉnh và có những động thái tích cực để cải thiện tình hình. Hay trong bài nghiên cứu về ảnh hưởng của CSR lên việc xây dựng danh tiếng của tổ chức (Emel Esen, 2013) đã chỉ ra rằng các hoạt động CSR nên được trình bày trong các báo cáo định kỳ để đáp ứng mong đợi của các bên liên quan. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một công cụ quan trọng để truyền thông với các bên liên quan về các hoạt động CSR.
Rõ thực như vậy một lợi thế cho công ty đại chúng là các hoạt động CSR tích cực có thể giúp họ làm nổi bật hơn bộ mặt của mình trên các sàn chứng khoán. Điều này có thể nâng cao giá cổ phiếu của công ty, đáp ứng sự mong đợi của cổ đông và các giám 123doc 11 đốc điều hành. Đúng như vậy CSR có một vai trò nhất định trong việc giải quyết rủi ro, khủng hoảng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể sử dụng CSR như một cứu cánh để giải quyết rủi ro hoặc khủng hoảng của công ty.
Do trong trường hợp khủng hoảng, những những doanh nghiệp được công chúng công nhận là “có trách nhiệm xã hội ” sẽ nhận được sự thông cảm cao hơn các trường hợp khác. Bên cạnh đó, CSR sẽ giúp doanh nghiệp lấy lại hình ảnh của mình khi DN biết cách khéo léo vận dụng những sáng kiến và áp dụng các chỉ số kiểm soát quy trình và chất lượng, đảm bảo sự cam kết trong việc “sửa sai” hoặc thực hiện các chương trình cộng đồng nhằm chứng minh thiện chí và xây dựng lòng tin đối với công chúng.2 Gia tăng lợi nhuận cho công ty Doanh nghiệp có thể sử dụng các kênh truyền thông đại chúng để thông báo cho cộng đồng và các bên hữu quan biết được những hoạt động CSR của công ty mình. Đây là một công cụ hữu hiệu để cho những người làm truyền thông phát triển thương hiệu và hình ảnh của một sản phẩm hoặc một tổ chức trong khi vừa đảm bảo được đạo đức nghề nghiệp trong nghành truyền thông vừa đáp ứng được ý muốn của chủ doanh nghiệp. Đặc biệt trong những ngành hàng mà chất lượng và giá cả sản phẩm gần như tương đương nhau, người tiêu dùng sẽ trở nên băn khoăn hơn trong việc đưa ra quyết định, lựa chọn của mình.
Trong những trường hợp như vậy, người dùng thường hay lựa chọn sản phẩm theo cảm tính và ý thích của mình do đó CSR có thể được xem như một phương thức hữu hiệu để gia tăng danh tiếng cho doanh nghiệp, hay nói cách khác là gia tăng “tình cảm” của người tiêu dùng đối với thương hiệu của sản phẩm hoặc doanh nghiệp, từ đó tăng thu nhập cho công ty.