Mở đầu Việt Nam, mục tiêu, ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài Khái quát về sự hài lòng công việc trong Chương 2 Tổng quan xây dựng của nguồn nhân lực đối với ngành xây dựng Việt Nam Lý thuyết về các công cụ kiểm định, phân Chương 3 Phương pháp nghiên cứu tích thống kê Từ dữ liệu thực tế thông qua bảng khảo Xác định các yếu tố sự hài sát thu được. Thống kê, phân tích tổng Chương 4 lòng công việc của kỹ sư quát về trị trung bình, phương sai.so trong ngành xây dựng VN sánh kết quả giữa các nhóm mẫu khảo sát Mô tả về tập hợp mẫu thu thập được sau 4.1 Thống kê mô tả quá trình khảo sát thực tế Tính trị trung bình của từng biến quan sát Xếp hạng các yếu tố theo 4.2 (BQS), xếp hạng theo thứ tự cao thấp và trị trung bình nhận xét tổng quát. Xếp hạng theo trị trung bình các BQS So sánh xếp hạng giữa các trong từng nhóm đối tượng, so sánh và 4.3 nhóm đối tượng chính khám phá điểm khác biệt, điểm tương đồng. So sánh tương quan xếp hạng giữa các Kiểm tra Tương quan xếp 4.4 nhóm có vai trò công tác khác nhau trong hạng Spearman ngành xây dựng.
Kiểm tra độ tin cậy thang Kiểm tra mức độ đo lường khái niệm yếu 4.5 đo cho các yếu tố tố của từng BQS (Cronbach’s Alpha) Kiểm định giả thuyết trung bình bằng 4.6 Kiểm định Anova nhau của các nhóm mẫu Thu gọn nhiều BQS thành số ít các yếu tố Xác định các yếu tố chính chính ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng sự hài lòng công việc của Chương 5 công việc của nguồn nhân lực trong nguồn nhân lực trong ngành xây dựng VN bằng phương pháp ngành xây dựng VN Phân tích nhân tố (PTNT) khám phá. 4 CHƯƠNG NỘI DUNG MỤC TIÊU MỤC Xác định mối tương quan Đánh giá tương quan giữa các yếu tố giữa các yếu tố chính sự chính sự hài lòng công việc của nguồn Chương 6 hài lòng công việc của nhân lực trong ngành xây dựng VN bằng nguồn nhân lực trong phương pháp PTNT khẳng định CFA, mô ngành xây dựng VN hình cấu trúc tuyến tính SEM Trình bày kết quả của nghiên cứu và các Chương 7 Kết luận và kiến nghị đề xuất, kiến nghị nhằm đáp ứng mục tiêu của nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 Công ty xây dựng Công ty xây dựng là những tổ chức tập hợp nhiều người có liên kết pháp lý, cùng sử dụng sức và của để hoàn thành các mục tiêu chung, tham gia các hoạt động XD được định nghĩa như sau: “Hoạt động xây dựng gồm lập quy hoạch xây dựng (XD), lập dự án đầu tư XD công trình, KSXD, TKXD, TCXD, GSXD, QLDAA, lựa chọn NT, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình XD và hoạt động khác có liên quan đến XD công trình” (Theo điều 3 Luật Xây dựng Số 50/2014/QH13) (N.2 Nhân viên, nguồn nhân lực Theo quy định “Bộ luật lao động năm 2019” thì "Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động. Nhân viên là một cá nhân được doanh nghiệp tuyển dụng được ký kết bằng hợp đồng lao động với những điều khoản được quy định trong Bộ luật lao động năm 2019 và chịu sự quản lý của công ty.
Tín, 2019) Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn nhân lực con người cho sự phát triển. Do đó, nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.vn/khai-niem-nguon- nhan-luc-la-gi/) Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.vn/khai-niem-nguon-nhan-luc-la- gi/) 6 2. Sự hài lòng 2.1 Định nghĩa về sự hài lòng Sự hài lòng trong công việc liên quan đến cảm giác của một cá nhân về công việc của mình. Nghiên cứu về hành vi của tổ chức đã chỉ ra rằng những cá nhân thể hiện sự hài lòng cao trong công việc của họ, có khả năng làm việc hiệu quả hơn, tham gia nhiều hoạt động của công ty và ít có khả năng từ chức hơn so với nhân viên.
(Quasim et al. Sư hài lòng của nhân viên là một yếu tố quan trọng có thể đưa ra ước tính về cảm xúc và hình thức suy nghĩ chung của nhân viên về công việc và nơi làm việc. Sự hài lòng của nhân viên liên quan đến hy vọng của nhân viên về nơi làm việc và cách tiếp cận đối với công việc của mình, mức độ hài lòng với công việc là một hàm về mức độ thỏa mãn nhu cầu của một người trong công việc. Sự hài lòng là một tập hợp các thái độ, cảm xúc niềm tin, hành vi của một người đối với công việc của mình, là phản ứng hiệu quả của một nhân viên liên quan đến công việc cụ thể của họ và kết quả từ sự so sánh của nhân viên về kết quả thực tế với những kết quả được mong đợi.
Người có mức độ hài lòng cao trong công việc có nhận thức tích cực, người không hài lòng trong công việc với nhận thức tiêu cực.2 Tình hình ngành xây dựng hiện nay Ngành XD được coi là một trong những ngành các lĩnh vực mà mọi quốc gia sử dụng để cân bằng và tái cấu trúc nền kinh tế. Ngành cung cấp cơ hội việc làm khác nhau cho các bộ phận khác nhau của nền kinh tế. Ngành xây dựng bao gồm nhiều chuyên gia: KSXD, KS đo đạc, KS kết cấu, KTS, KS dịch vụ và quản lý BĐS …Hầu hết các công ty XD thường gặp nhiều khó khăn trong việc cung cấp các dịch vụ cho nhân viên, ảnh hưởng đến hiệu quả công việc và sự hài lòng trong công việc của nhân viên đối với công việc của họ. Rapheal, 2013) Ngành xây dựng trên toàn thế giới đang gặp vấn đề trong việc thu hút và giữ chân nhân viên lành nghề.
Việc thu hút và giữa chân lao động lành nghề là mối quan tâm hàng đầu với với Giám đốc điều hành của các công ty xây dựng. Do tính chất ngành 7 công việc rất phức tạp, không chắc chắn, áp lực về công việc, phải di chuyển nhiều địa điểm khác nhau, hợp đồng ngắn hạn, áp lực khách hàng yêu cầu chất lượng và tiến hành nhanh. Thị trường cạnh tranh cao, mức lợi nhuận tương đối thấp, nhu cầu xây dựng nghiệm thu cao, đòi hỏi những người tham gia làm việc nhiều giờ và đặt công việc của họ lên hàng đầu. Hassett, 2006) Tại Việt Nam hiện nay ngành xây dựng gặp nhiều khó khăn, thị trường đang bị thu hẹp, nhiều công trình, dự án phải đình hoãn, lực lượng lao động trong các doanh nghiệp xây lắp giảm.
Một trong những giải pháp hiệu quả để hạn chế việc thiếu hụt lao động trong ngành xây dựng là thu hút và duy trì lực lượng lao động nữ tham gia vào ngành xây dựng. Dung, 2013) Báo cáo đánh giá của Tổng Hội XDVN cho thấy hiện cả nước có khoảng gần 78.000 doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây với khoảng 4 triệu lao động năm 2019. Trung bình mỗi năm VN dành từ 30-40% GDP cho việc đầu tư phát triển các công trình XD cơ sở hạ tầng, cho thấy tầm quan trọng của nguồn nhân lực và đòi hỏi khá cao khả năng đáp ứng được đặc thù công việc khá phức tạp trong ngành xây dựng của nguồn nhân lực này. Hoa, 2019) Tỷ lệ nhảy việc của KSXD, KTS trong ngành xây dựng cao.
Công việc của lao động ngành xây dựng thường vất vả, điều kiện làm việc không an toàn chịu ảnh hưởng của thời tiết. Người lao động phải làm việc trong các công trường xa nhà. Một bộ phận lớn lao động xây dựng phải làm việc ngoài trời chịu ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết. Đôi khi họ phải làm việc bên dưới mặt đất sâu như trong các tầng hầm, đường hầm… hoặc làm việc ở độ cao trên các tòa nhà cao tầng.
Người lao động làm việc trong điều kiện rất nguy hiểm đôi khi không có phương tiện và trang phục bảo hộ lao động, làm việc không kể mưa nắng… Chưa kể đến nhiều lao động phải làm công việc nguy hiểm đến sức khỏe như: Sơn, hóa chất … nhưng không được trang bị cả dụng cụ và kiến thức an toàn lao động. Có những đơn vị máy móc, thiết bị, công cụ sản xuất không đảm bảo an toàn nhưng vẫn đưa vào sử dụng. Một số nhà thầu chưa thực hiện đầy đủ pháp luật về bảo hộ lao động, thiếu sự quan tâm chỉ đạo, kiểm soát an toàn, phòng cháy nổ. Áp lực nghề xây dựng ngày càng cao, các Kỹ Sư phải có năng lực chuyên môn cao để giải quyết những rủi ro phát sinh trong dự án.
Việc tăng ca, số giờ làm việc với cường độ cao 12h-14h một ngày đối với kỹ sư xây dựng là công việc trở nên bình 8 thường. Ngành xây dựng đóng vai trò quan trọng nhưng không còn tạo ra sức hút đối với người lao động bao gồm người học trong chọn nghề nghiệp, điều đó dẫn đến thiếu hụt lao động nghiêm trọng. Do đó các công ty cần phải có chính sách thu hút và giữ chân nhân viên. Hiệu quả công việc (Đ.
Hoa, 2016), hiệu quả công việc của người lao động được xem như chất lượng lao động, trong đó, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người lao động là tiêu chí trung tâm, chủ yếu nhất để đánh giá hiệu quả công việc. Do đó, hiệu quả công việc được xem như kết quả đầu ra của chất lượng lao động. Tổng quan các nghiên cứu trước đây Bảng 2. Tổng hợp một số nghiên cứu trước liên quan Tác giả Tên đề tài Phương pháp nghiên cứu Mục tiêu, kết quả nghiên cứu Khảo sát 230 bảng câu hỏi đối với các nhân viên làm việc ở thành phố Hồ Chí Tìm ra mối liên hệ của các nhân tố chính đối với hiệu quả làm Minh.