CHƯƠNG 1. GIỚI THIEU DE TÀI 1. Giới thiệu chung An toàn cho người lao động khi làm việc là vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm, bởi vì nó liên quan đến sức khỏe và tính mạng của người lao động. Nhất là ngành xây dựng, lĩnh vực mà được coi là nặng nhọc, nguy hiểm và có tý lệ xảy ra tai nạn cao hơn các ngành khác.
Tai nạn trong xây dựng gây nên nhiều bi kịch cho con người, giảm động cơ làm việc của công nhân, làm gián đoạn tiến trình, làm chậm trễ thời gian thực hiện công việc và ảnh hưởng đến chỉ phí, năng suất, danh tiếng của ngành công nghiệp xây dựng (Kartam, 1997). Một số số liệu thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về các vụ tai nạn lao động từ năm 2005 đến năm 2014, cả nước đã xảy ra 58.399 vụ tai nạn lao dong, trong đó có 5.232 vụ nghiêm trong; làm chết 5.791 người, bị thương nặng 14. Ngành để xảy ra nhiều vụ tai nạn nhất là xây dựng, chiếm khoảng 30% số vụ tai nạn gây chết người. Riêng năm 2015, trên toàn quốc đã xảy ra 7.620 vụ tai nạn lao động, làm 7.785 người bị nạn, trong đó 629 vụ chết người; lĩnh vực xây dựng chiếm 35,2% tong số vụ tai nạn và 37,9% tong số người chết.
Thiệt hại về vật chất do tai nạn lao động xảy ra năm 2015 là 153,97 tỷ đồng: thiệt hại về tài sản là 21,9 tỷ đồng: tổng số ngày nghỉ do tai nạn lao động là 99,679 ngày. Các nguyên nhân chủ yếu để xảy ra tai nạn lao động chết người cũng đã được phân tích từ 238 biên bản điều tra tai nạn lao động chết người, đó là nguyên nhân do người sử dụng lao động chiếm 52,8%; nguyên nhân do người lao động chiếm 18,9%. Dé hạn chế nguy cơ xảy ra tai nạn và quản lý hiệu quả an toàn lao động trong xây dựng, Chính phủ và Bộ Xây dựng đã ban hành các văn bản quy định về thực hiện và quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng (Điều 115, Luật Xây dựng 2014), và đưa quản lý an toàn lao động trên công trường là một phần nội dung quản lý thi công xây dựng (Nghị định 12, 2009). Tuy nhiên, tình trạng tai nạn lao động ở trên các công trường xây dựng vẫn ngày càng tăng và năm sau cao hơn năm trước.
Đó là một thách thức lớn cho tất cả những người liên quan trong ngành xây dựng để cải thiện tình trạng này băng các hành động có hiệu quả để giảm thiểu nguy cơ tai nạn và bệnh tật (Suraji, 2001). HVTH: Lê Thị Nam MSHV: 13080035 Luận Văn Thạc Sỹ 7 GVHD: PGS. Phạm Hồng Luân 1. Xác định vẫn đề nghiên cứu Thực tế quản lý an toàn trong xây dựng là một công việc không đơn giản.
Vấn dé an toàn luôn chịu sự tác động to lớn từ yếu tố con người, một lực lượng lao động thường xuyên phân tán và lưu động (Fang, 2006). Các nghiên cứu về an toàn là để dự đoán các kết quả liên quan đến an toản và cung cấp các hướng dẫn có giá trị về cải thiện vân dé an toàn trong các tô chức. Hành vi không an toàn của người lao động có thể gây ra những tình huống nguy hiểm, là tiền dé quan trọng để xảy ra các tai nạn và thương tật nơi làm việc (Brown et al. Vì vậy có thé giải quyết các van dé an toàn lao động bang cách tập trung nghiên cứu làm thay đối hành vi làm việc không an toàn của người lao động.
Theo Janadi, (1995) hành vi không an toàn của con người thì không thể thực hiện quản lý một cách máy móc. Vậy làm thé nào dé thúc đây hành vi làm việc an toàn của người lao động? Hanh vi làm việc an toàn bị định hướng bởi các yếu tố nào? Theo thuyết hành vi thì hành vi của con người không phải tạo bởi môi trường, hoàn cảnh mà bởi cách nhìn nhận van dé. Con người học tập bang cách quan sát, ghi nhớ và được thực hiện bằng suy nghĩ và quan niệm của mỗi người về những gì họ đã trải nghiệm. Các nghiên cứu trước đây cho thấy, nhận thức và đánh giá của người lao động về các van đề liên quan đến an toàn nơi làm việc của họ (được gọi là trạng thái an toàn) ảnh hưởng đáng kế đến hành vi làm việc an toàn cá nhân.
Pousette et al, (2008) trong nghiên cứu về trạng thái an toàn, đã kiểm định giá trị dự đoán của trạng thái an toàn đối với hành vi an toàn và thấy rằng trạng thái an toàn được tìm thay có thé dự đoán đáng kể hành vi an toàn trong thời gian tiếp theo sau. Việc dự đoán hành vi làm việc an toàn cho thấy một bức tranh hiện tại về trạng thái an toàn.Theo Wiegmann và các cộng sự (2004), trạng thái an toan khá không 6n định và có thể thay đối. Do đó, việc dự đoán hành vi làm việc an toàn từ đó xác định được các hạn ché của trạng thái an toàn, đưa các các biện pháp khắc phục hạn chế đó nhằm thay đối hành vi làm việc theo hướng an toàn tích cực. Vì vậy, đề tài “dự đoán hành vi làm việc an toàn trên công trường xây dựng Việt Nam bằng công cụ ANN và hồi quy đa biến” là cần thiết để cải thiện hành vi làm việc không an toàn bang cách thay đổi trạng thái an toàn.
HVTH: Lê Thị Nam MSHV: 13080035 Luận Văn Thạc Sỹ 8 GVHD: PGS. Pham Hồng Luân 1. Mục tiêu nghiên cứu Xác định các yêu tô của trạng thái an toàn trong các dự án xây dựng. Xây dựng mô hình dự đoán hành vi làm việc an toàn của công nhân tại các công trường xây dựng thông qua các yêu tô của trạng thái an toàn sử dụng mạng nơ ron nhân tạo (ANN) và hồi quy đa biến.
So sánh kết qua của hai mô hình. Phạm vi nghiên cứu Địa điểm nghiên cứu: Các công trường xây dựng tại thành phố Hỗ Chí Minh và các tỉnh lân cận. Đối tượng khảo sát: Các kỹ sư công trường, giám sát, nhân viên an toản và những người liên quan trực tiếp đến việc thực hiện công việc tại công trường. Quan điểm phân tích: Phân tích theo quan điểm của nhà thầu thi công, giám sát và quản lý dự án.
Đóng góp của nghiên cứu Về mặt học thuật: Xây dựng mô hình có thê dự đoán được hành vi làm việc an toàn khi đưa vào các thông tin về các yếu t6 tác động đến trạng thái an toàn. Về mặt xã hội: + Nghiên cứu hỗ trợ nhà thầu đưa ra phương án thúc đây hành vi làm việc an toàn bang cách tập trung vào thay đôi các yếu t6 trạng thái an toàn. + Giúp quan lý hiệu quả các van dé an toàn và các hoạt động an toàn tại công trường. HVTH: Lê Thị Nam MSHV: 13080035 Luận Văn Thạc Sỹ 9 GVHD: PGS.
Pham Hồng Luân CHƯƠNG 2. Giới thiệu chương Nội dung chương này trình bay các khái niệm về văn hóa an toàn, trạng thái an toàn cũng như hành vi làm việc an toàn của người lao động. Đồng thời, đánh giá tong quan các nghiên cứu liên quan dé xác định mối quan hệ giữa trạng thái an toan với hành vi làm việc an toàn và việc thực hiện an toàn, bên cạnh đó cũng xác định các yêu tô ảnh hưởng dén trạng thái an toàn. + Khai niém van hoa an toan Van hoa an toan va trang thai an toan — Khái niệm trạng thai an toàn Môi quan hệ giữa trạng thái an toàn và hành vi làm việc an toàn TCQOIHUNAG: Khái niệm hành vi và hành vi làm việc an toàn Í Hành vi làm việc an L toàn Tác động của hành vi làm việc an toàn vào việc thực hiện an toàn Tông quan các yêu tô tác động vào trạng thai an toan Tong quan cac nghién cứu liên quan Hình 2.1 Sơ đồ tóm tắt chương 2 HVTH: Lê Thị Nam MSHV: 13080035 Luận Văn Thạc Sỹ 10 GVHD: PGS.
Phạm Hồng Luân 2. Trạng thái an toàn và môi quan hệ với hành vi làm việc an toàn Ngành công nghiệp xây dựng được cho là nguy hiểm do đặc điểm phân tán và di động, và do đó phương thức nâng cao hiệu suất an toàn đã được sử dụng bởi vài ngành công nghiệp thì không thích hợp trong ngành công nghiệp xây dựng. Các lãnh đạo cao nhất trong các công ty xây dựng thừa nhận răng văn hóa an toàn sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc đạt được hiệu suất an toàn cao hơn (Fang et al, 2006). Flin et al.
(2000) trích dan Gonzalez-Roma et al, (1999) ý tưởng van hóa an toàn đã có từ trước bởi một số nghiên cứu rộng trong văn hóa va trạng thái tổ chức, ở đó văn hóa an toàn bao gồm các giá trị, niềm tin và giả thuyết nền tảng về an toàn của tổ chức. Choudhry et al (2007) đã tong hợp một số khái niệm về văn hóa an toàn, đó là văn hóa an toàn đề cập đến “thái độ, niềm tin và nhận thức được chia sẻ bởi các nhóm bản chất như là việc xác định các chuẩn mực và giá tri, trong đó xác định cách thức họ hành động và phản ứng liên quan đến rủi ro và hệ thống kiểm soát rủi ro” (Hale, 2000); văn hóa an toàn là các khía cạnh của văn hóa tổ chức (Guldenmund 2000) mà ở đó văn hóa là “sản phẩm của sự tương tác đa mục tiêu giữa con người (tâm lý), công việc (hành vi) và tổ chức (tình huéng)”, trong khi văn hóa an toàn là “mức độ nỗ lực quan sát được mà tất cả các thành viên trong tô chức hướng sự chú ý và hành động của họ tới việc cải thiện an toàn hàng ngày” (Cooper 2000); còn Mohamed (2003) định nghĩa văn hóa an toàn là khía cạnh con của văn hóa tổ chức ảnh hưởng đến thái độ và hành vi liên quan tới việc thực hiện an toan của tô chức. Mặc dù các định nghĩa khác nhau, có một sự đồng thuận về văn hóa an toàn là một quan điêm chủ động đôi với an toàn. Một sản phẩm của văn hóa an toàn đó là trạng thái an toàn, nó là “bản tóm tắt nhận thức mà các nhân viên chia sẻ về môi trường làm việc của họ” (Zhohar, 1980).
Trong đó, văn hóa an toàn bao gồm các giá trị, niềm tin và giả thuyết nền tang, còn trang thái là tiêu chuẩn mô ta phản ánh nhận thức của lực lượng lao động vé không khí của tổ chức (Flin et al, 2000). Trạng thái an toàn thường được coi là bé ngoài hơn văn hóa an toàn trong đó nó liên quan đến tình trạng hiện tại của một công ty (Glendon and Stanton, 2000).