mở đầu, kết luận và các danh mục từ viết tắt, danh mục hình vẽ, hộp, bảng biểu, nội dung của luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1:Một số lý luận về thực hiện trách nhiệm xã hội đối với ngƣời lao động trong doanh nghiệp. Chƣơng 2:Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội đối với ngƣời lao động tại Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long. Chƣơng 4: Giải pháp chủ yếu đẩy mạnh thực hiện trách nhiệm xã hội đối với ngƣời lao động tại Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long.
10 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Trách nhiệm xã hội Ngày nay, trách nhiệm xã hội (Corporate Social Responsibility - CSR) ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong hoạt động của các doanh nghiệp. Mỗi tổ chức, doanh nghiệp, chính phủ, tuỳ thuộc vào điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển của mình lại chọn cho mình một định nghĩa về CSR dƣới những góc độ riêng.
CSR khuyến khích các tổ chức xem xét lợi ích của xã hội bằng cách chịu trách nhiệm về những ảnh hƣởng gây ra bởi các hoạt động của tổ chức đến khách hàng, nhân viên, cổ đông, cộng đồng và môi trƣờng trong tất cả các khía cạnh. Từ đó có các biện pháp để cải thiện chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời lao động và gia đình họ cũng nhƣ cho cộng đồng địa phƣơng, xã hội.Browen là ngƣời đầu tiên đƣa ra khái niệm về CSR vào năm 1953 trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của các doanh nhân”. Nhƣng chủ yếu trong giai đoạn này CSR chỉ bao gồm hai khía cạnh đó là luật phápvà kinhtế. Đến năm 1955, ngƣời đầu tiên thực hiện CSR, có thể nói là ông Noris, CEO đầu tiên của công ty Control Data.
Norisđã phác thảo những ý tƣởng đầu tiên về thực hiện CSR bằng việc chỉ racác doanh nghiệp nên sử dụng tài năng và nguồn lực của mình nhằm đáp ứng những nhu cầu của xã hội. Tuy nhiên ông đã không thành công trong việc triển khai những ý tƣởng của mình và United Way sau đó đã là ngƣời đã phát triển ý tƣởng của Noris thành chiến lƣợc thành công giúp doanh nghiệp gia tăng lợi thế cạnh tranh đồng thời phát triển cộng đồng lâu dài. Đến năm 1973, Keith Davis đƣa ra một khái niệm khá rộng về CSR “CSR là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vƣợt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lí, kinh tế, công nghệ”. Prakash,Sethi (1975) cho rằng “trách nhiệm xã hội hàm ý nâng hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kì vọng xã hội đang phổ biến”, theo đó, trách nhiệm xã hội 11 z của doanh nghiệp chỉ dừng lại ở trách nhiệm với cổ đông và ngƣời lao động trong công ty, còn nhà nƣớc phải có trách nhiệm với xã hội vì doanh nghiệp đã góp phần có trách nhiệm với xã hội thông qua nộp thuế cho nhà nƣớc.
Theo quan điểm này, bản chất của CSR gắn liền vai trò của DN trong mối tƣơng quan với vai trò của nhà nhà nƣớc khiến cho khái niệm CSR luôn biến đổi. Tuy nhiên, từ khi xuất hiện khái niệm “Triple bottom lines” (bao gồm sự phát triển về kinh tế, con ngƣời và tự nhiên) do John Elkington (1977) khởi xƣớng thì mọi thứ hoàn toàn thay đổi. Theo đó, đối tƣợng tiếp cận và trách nhiệm của một doanh nghiệp đƣợc mở rộng ra bên ngoài phạm vi doanh số, lợi nhuận và kháchhàng, thêm vào đó doanh nghiệp còn phải có trách nhiệm với những ảnh hƣởng của do các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó gây ra trên một khu vực địa phƣơng cụ thể, cũng nhƣ trách nhiệm thể hiện sự đóng góp của mình nhƣ là một phần của cộng đồng dân cƣđó. Quan điểm này đƣợc Archie B.
Carroll phát triển thành tháp CSR vào năm 1979 với bốn thang bậc trách nhiệm bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp luật, cam kết và tự nguyện. Và cho đến nay, mô hình kim tự tháp của Carroll vẫn là nền tảng cốt lõi cho hầu hết các DN khi tiếp cận khái niệm CSR và triển khai thực hiện. Nhƣ vậy, có thể thấy rõ, dù có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về CSR thì bản chất của khái niệm này vẫn xoay quanh những cam kết của DN đóng góp vào phát triển kinh tế bền vững thông qua việc đảm bảo lợi ích DN trong khuôn khổ pháp luật hiện hành cũng nhƣ lợi ích phát triển chung của toàn xã hội.CSR đƣợc coi là một yếu tố quan trọng nhƣ những yếu tố truyền thống khác nhƣ chi phí, chất lƣợng và giao hàng trong kinh doanh. CSR đƣợc lồng ghép vào chiến lƣợc của DN và trở thành điều kiện bắt buộc để DN tồn tại và phát triển.
Tuy nhiên, khái niệm CSR còn mới với nhiều DN tạiViệt Nam với năng lực quản lý, kiến thức chuyên môn trong thực hiện CSR ở DN còn hạn chế. Trong khuôn khổ đề tài này, trách nhiệm xã hội được tiếp cận dưới góc độ là những cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, 12 z thông qua những việc làm nâng cao chất lượng đời sống cho người lao động và các thành viên trong gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội. Người lao động trong doanh nghiệp Tại Việt Nam, theo Quy định tại Điều 3 Bộluật Lao động, ngƣời lao động là ngƣời ít nhất đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động. Người lao động trong doanh nghiệp (NLĐ) là người có đủ điều kiện lao động theo quy định của luật pháp, được một doanh nghiệp cụ thể giao kết hợp đồng lao động trong đó quy định rõ thời gian, hình thức lao động phù hợp với pháp luật của địa phương cũng như các quy tắc ứng xử riêng của doanh nghiệp đó.
Ngƣời lao động trong doanh nghiệp phải đƣợc đảm bảo các quyền lợi nhƣ trong giao kết với DN, đồng thời cũng có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với DN, góp phần vào mục tiêu chung. Quyền lợi của NLĐ bao gồm các quyền lợi tối thiểu theo pháp luật, quy định tại Điều 5 Bộluật Lao động: quyền tự do chọn việc làm, học nghề, nâng cao trình độ, không bị phân biệt đối xử; chế độ lƣơng, thƣởng, phúc lợi; chế độ bảo hộ lao động, bảo đảm điều kiện làm việc an toàn; tham gia hoạt động công đoàn…; bên cạnh đó còn là các quyền lợi mà DN tự cam kết với NLĐ trong hợp đồng lao động (HĐLĐ). Bên cạnh khái niệm ngƣời lao động, cũng tồn tại khái niệm về tập thể ngƣời lao động. Đó là tập hợp có tổ chức của ngƣời lao động cùng làm việc cho một ngƣời sử dụng lao động hoặc trong một bộ phận thuộc cơ cấu tổ chức của ngƣời sử dụng lao động.
Cũng cần phân biệt khái niệm ngƣời lao động với tổ chức đại diện tập thể ngƣời lao động và tổ chức đại diện tập thể ngƣời sử dụng lao động. Theo đó, tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở là Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi chƣa thành lập công đoàn cơ sở. Tổ chức đại diện tập thể ngƣời sử dụng lao động là tổ chức đƣợc thành lập hợp pháp, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ngƣời sử dụng lao động trong quan hệ lao động. Thực hiện trách nhiệm xã hội Thực hiện trách nhiệm xã hội được hiểu là các hoạt động cụ thể của doanh nghiệp đối với các bên hữu quan nhằm đảm bảo các cam kết trách nhiệm xã hội mà doanh nghiệp đề ra.
Mô hình kim tự tháp của A.Carroll (1979) đề cập đến 4 khía cạnh của thực hiện CSR theo thứ bậc đƣợc đánh giá là có tính toàn diện và đƣợc áp dụng rộng rãi trong việc tiếp cận triển khai CSR. Theo đó, CSR đƣợc ƣu tiên thực hiện theo 4 mức trách nhiệm: Trách nhiệm kinh tế; Trách nhiệm pháp lý; Trách nhiệm cam kết; và Trách nhiệm tự nguyện. Trách nhiệm tự nguyện Trách nhiệm cam kết Trách nhiệm pháp luật Trách nhiệm kinh tế Hình 1. Mô hình kim tự tháp A.Carroll (1979) (Nguồn: Archie B., 1991) (i) Thực hiện trách nhiệm kinh tế: tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả và tăng trƣởng, là điều kiện tiên quyết bởi DN đƣợc thành lập trƣớc hết từ động cơ tìm kiếm lợi nhuận.
Thêm vào đó, với vai trò là tế bào kinh tế căn bản của xã hội, việc thực hiện trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp cũng chính là nòng cốt cho đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội. (ii) Thực hiệntrách nhiệmpháp luật chính là một phần của bản “khế ƣớc” giữa DN và xã hội. Mọi mục tiêu kinh tế DN theo đuổi đều 14 z phải nằm trong giới hạn của các quy tắc xã hội, đƣợc Nhà nƣớc quy định dƣới hình thức các văn bản pháp luật. Trách nhiệm pháp lý bao gồm 5 khía cạnh cơ bản: Điều tiết cạnh tranh, đảm bảo môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh; Bảo vệ ngƣời tiêu dùng cụ thể thông qua việc tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn đối với sản phẩm đồng thời cung cấp chính xác thông tin về sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho khách hàng; Bảo vệ môi trƣờng bao gồm cả môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng văn hoá - xã hội phi vật thể; An toàn và bình đẳng trong môi trƣờng làm việc; Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái.
Trách nhiệm pháp lý, bên cạnh trách nhiệm kinh tế là hai bộ phận cơ bản không thể thiếu trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. DN không thể tồn tại lâu dài khi các hành vi của nó nằm ngoài khuôn khổ pháp luật nhà nƣớc. (iii) Thực hiệntrách nhiệmcam kết là những quy tắc, giá trị đƣợc xã hội chấp nhận nhƣng chƣa đƣợc “mã hóa” vào văn bản luật. Ngoài việc tuân thủ pháp luật đƣợc coi là sự đáp ứng những đòi hỏi, chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra, DN còn cần phải thực hiện cả các cam kết ngoài luật nhƣ các chế độ riêng đối với ngƣời lao động, chăm sóc khách hàng, quan hệ với nhà cung ứng, cổ đông, đối thủ cạnh tranh… Trách nhiệm cam kết hay còn gọi là trách nhiệm đạo đức, vì nó nằm ngoài phạm vi pháp lý những vẫn thuộc phạm trù đạo đức mà xã hội mong đợi ở bất kỳ DN nào khi tham gia nền kinh tế.