CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI 1. Tổng quan về trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp 1.1 Khái niệm Thời gian gần đây, dư luận đang quan tâm chặt chẽ và bức xúc đối với hàng loạt vụ vi phạm đạo đức kinh doanh, xâm hại môi truờng và sức khỏe con nguời ở mức dộ nghiêm trọng. Điển hình là vụ sữa nhiễm melamine của Trung Quốc và vụ xả trực tiếp chất thải không qua xử lý ra sông Thị Vải của công ty Vedan ở Việt Nam. Sự đúng – sai trong những vụ việc trên là rõ ràng.
Tuy nhiên, đối với xã hội và hàng ngàn doanh nghiệp đang hoạt động khác, bài toán về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp lại được đặt ra và cần phải thảo luận nghiêm túc cả về mặt lý luận, chính sách và thực tiễn. Một công ty cần phải làm những gì để có thể được xã hội đánh giá là một công ty tốt và phát triển bền vững? Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước tới đâu? Luật nên quy định trách nhiệm của doanh nghiệp đến mức độ nào thì hợp lý? Căn cứ vào đâu để đánh giá doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội? Nhằm góp phần giải đáp các câu hỏi trên, chúng ta tiếp cận từ góc độ kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực này với suy nghĩ rằng các nền kinh tế phát triển đều đã từng đối mặt với những vấn đề chúng ta gặp phải ngày hôm nay, do đó những cuộc tranh luận và giải pháp của họ rất đáng để chúng ta tham khảo. Kể từ khi xuất hiện khái niệm Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility (CSR)) lần đầu tiên vào năm 1953, chủ đề này đã gây ra cuộc tranh luận sôi nổi giữa hai truờng phái quản trị “đại diện” và “đa bên” trong quản trị công ty, trên bình diện lớn hơn, đây là sự tranh chấp giữa chủ nghĩa tư bản tự do (bảo thủ, cánh hữu) và chủ nghĩa tư bản xã hội (dân chủ, cánh tả). Nội dung chính của cuộc tranh luận xoay quanh hai vấn đề 12 z then chốt trong CSR là: (i) bản chất của doanh nghiệp hiện dại, và (ii) mối quan hệ ba bên: doanh nghiệp - xã hội - nhà nuớc.
Khái niệm CSR theo thời gian đã mở rộng đối tượng ảnh hưởng của mình ra nhiều doanh nghiệp và tổ chức liên quan, còn mục đích đặt ra cho các doanh nghiệp đó là phải quan tâm tới các hoạt động của mình có ảnh hưởng như thế nào tới các vấn đề xã hội xung quanh như với cộng đồng (quyền con người, các vấn đề về lao động,…), bảo vệ môi trường;… Sau rất nhiều định nghĩa về CSR thì định nghĩa của Nhóm Phát triển Kinh tế Tư nhân của Ngân hàng thế giới đưa ra có tầm bao quát nhất. Nhóm Phát triển Kinh tế Tư nhân của Ngân hàng thế giới đưa ra định nghĩa về Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp: “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững thông qua các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội theo cách có lợi nhất cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”.2 Bản chất của trách nhiệm xã hội Các doanh nghiệp, với vai trò là đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng phải có quy trình sản xuất, quy trình kinh doanh và hệ thống quản lý sao cho các quyền của người tiêu dùng được thực thi, đây chính là việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Với doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội liên quan đến: - Vấn đề Marketing và thực hành thông tin trung thực: Thông qua việc thông tin trung thực, không sai lệch, thực hiện kinh doanh công bằng và đúng cam kết. Mặc dù vấn đề thông tin, quảng cáo trung thực không chỉ được đề cập đến ở Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà còn ở rất nhiều văn bản khác, đặc biệt là Luật quảng cáo.
Tuy nhiên, thực trạng nội dung quảng cáo hiện nay vẫn còn rất nhiều bất cập, việc đưa các thông tin lập lờ, không rõ ràng để người 13 z tiêu dùng hiểu sai hoặc cố tình đưa các thông tin không đúng sự thật để lừa dối người tiêu dùng đang diễn ra ngày càng nhiều hơn và tinh vi hơn. Điều này thể hiện ý thức trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang ở mức báo động và cần thiết phải có sự vào cuộc mạnh mẽ hơn của các cơ quan quản lý. - Vấn đề bảo vệ an toàn và sức khỏe cho người tiêu dùng: Hàng hóa, dịch vụ cung cấp phải an toàn đối với người tiêu dùng trong quá trình sử dụng, đáp ứng được các chuẩn kỹ thuật liên quan đến sức khỏe và an toàn cho người tiêu dùng. Có cơ chế thu hồi và khắc phục hậu quả của hàng hóa có khuyết tật.
- Vấn đề tiêu dùng bền vững: Thông qua việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ thân thiện với môi trường; cung cấp thông tin để giúp người tiêu dùng lựa chọn hàng hóa dịch vụ cũng như sử dụng hàng hóa dịch vụ giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe. - Vấn đề giải quyết khiếu nại, tranh chấp của người tiêu dùng: Có các biện pháp để ngăn ngừa, giảm thiểu khiếu nại về sản phẩm cũng như thực hiện cơ chế giải quyết khiếu nại thích hợp và có hiệu quả. Đồng thời, thông qua việc xem xét, giải quyết khiếu nại để tự hoàn thiện mô hình, cách thức quản lý họat động sản xuất, kinh doanh. - Vấn đề bảo mật dữ liệu cá nhân và đời tư của người tiêu dùng: Giới hạn việc thu thập các dữ liệu cá nhân ở các thông tin cần thiết cho việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng với sự cho phép một cách tự nguyện của người tiêu dùng thông qua phương thức thu thập và nội dung thu thập hợp pháp.
Đồng thời bảo vệ dữ liệu cá nhân của người tiêu dùng. - Vấn đề đảm bảo quyền sử dụng các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu của người tiêu dùng: Không được ngừng cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu như điện, chất đốt, nước, rác thải, thoát nước…. cho những người không có khả năng chi trả mà không có khung thời gian hợp lý để người tiêu dùng tìm 14 z cơ hội chi trả. Khi đặt ra mức giá, chi phí cần tính đến yếu tố tác động xã hội đến các tầng lớp dân cư.
- Vấn đề giáo dục và nâng cao nhận thức của người tiêu dùng. Với những nội dung cơ bản về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã đề cập ở trên, đối chiếu với thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam, có thể nhận thấy không phải doanh nghiệp nào cũng làm tốt trách nhiệm của mình. Cá biệt có những doanh nghiệp vì lợi nhuận đã có những hành động xâm hại trắng trợn đến quyền lợi của người tiêu dùng cũng như thiết chế pháp luật. Điển hình như trường hợp găm hàng khi có thông tin tăng giá xăng, dầu; tung tin thất thiệt về an ninh lương thực để đẩy giá gạo lên cao; sản xuất bột ngọt, thanh nhôm định hình….
nhưng không xử lý nước thải gây hại nghiêm trọng đến môi trường; quảng cáo sai sự thật trên truyền hình, trên mạng internt… 1.3 Các quan điểm đối lập về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Thứ nhất, doanh nghiệp và nguời quản lý doanh nghiệp chỉ có trách nhiệm đối với cổ đông là nguời chủ sở hữu công ty dã lựa chọn họ để làm đại diện. Do đó, nếu nguời quản lý công ty muốn, anh ta có toàn quyền để thực hiện các trách nhiệm xã hội dựa trên nhận thức và tình cảm của riêng mình và bằng thời gian và tiền bạc của cá nhân, nhung không đuợc sử dụng nguồn lực của công ty và nhân danh công ty, nếu không đuợc cổ đông ủy thác dể làm việc đó. Thứ hai, công ty vốn là một chủ thể “vô tri vô giác” do con nguời tạo ra; do đó công ty không thể tự nhận thức và gánh vác nghĩa vụ đạo đức vốn chỉ có con nguời mới có. Hơn nữa, các trách nhiệm xã hội thuộc linh vực của nhà nuớc, là chủ thể cung cấp các dịch vụ công, vì lợi ích công cộng và phi lợi nhuận.
Trách nhiệm của doanh nghiệp là tạo ra giá trị gia tăng, phát triển công đem lại lợi nhuận, 15 z tạo ra việc làm và thu nhập cho nguời lao động. Trách nhiệm chính của doanh nghiệp đối với nhà nuớc là đóng góp thuế. Và trách nhiệm của nhà nuớc là làm sao sử dụng tiền thuế đó hiệu quả nhất vì lợi ích công cộng. Như vậy, nếu doanh nghiệp cũng thực hiện các trách nhiệm xã hội thì sẽ có sự trùng lặp và doanh nghiệp sẽ trở thành nguời vừa đóng thuế, vừa quyết định việc chi tiêu khoản thuế đó ra sao.
Nguời quản lý doanh nghiệp khi ấy sẽ trở thành một nhân viên công vụ hơn là một nguời dại diện cho lợi ích của cổ đông. Mặt khác, kể cả khi một nguời quản lý doanh nghiệp đuợc sử dụng nguồn lực của công ty để thực hiện trách nhiệm xã hội thì không có gì đảm bảo rằng quyết định của anh ta là sáng suốt và đúng đắn cho mục tiêu xã hội cuối cùng, vì anh ta không phải là một chuyên gia về xã hội, mà là một chuyên gia về quản lý và kinh doanh và đó là lý do anh ta duợc cổ đông cử làm đại diện và gửi gắm niềm tin trong việc quản lý doanh nghiệp. Do đó, nếu muốn thực hiện trách nhiệm xã hội, các cổ đông có thể làm với tư cách cá nhân, tự nguyện và tách biệt với công mà không nên thông qua công ty và những nguời quản lý công ty. Từ quan điểm này, truờng phái phản dối CSR cho rằng các chương trình của doanh nghiệp lấy tên“trách nhiệm xã hội” chỉ là những chương trình PR đạo đức giả, mà thực chất mục tiêu cuối cùng vẫn là vì lợi nhuận của doanh nghiệp mà thôi.
Những nguời ủng hộ CSR đưa ra một lập luận khác cung hết sức thuyết phục là bản thân công ty khi đi vào hoạt động dã là một chủ thể của xã hội, sử dụng nguồn lực của xã hội và môi truờng, do đó có thể tác động tiêu cực tới xã hội và môi truờng. Vì vậy, doanh nghiệp phải có ý thức về những tác động từ hoạt động SXKD của mình và có trách nhiệm với chính hành vi của mình truớc xã hội.