CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 1. Tổng quan về công bố thông tin doanh nghiệp 1. Khái niệm thông tin và công bố thông tin doanh nghiệp 1. Khái niệm về thông tin Có nhiều cách hiểu khác nhau về thông tin dựa trên các góc độ khác nhau, cách tiếp cận khác nhau.
Theo từ điển Tiếng Việt thì thông tin được định nghĩa như sau: “Thông tin với nghĩa động từ là truyền tin cho nhau để biết, với nghĩa danh từ là điều được truyền đi, tin được truyền đi” (Viện ngôn ngữ, 2002). Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, thông tin được định nghĩa “là một khái niệm cơ bản của khoa học hiện đại, khái quát về các điều hiểu biết, tri thức, thu được qua nghiên cứu, khảo sát hoặc trao đổi giữa các đối tượng với nhau”. Cách hiểu về thông tin được nêu trong 2 từ điển này chủ yếu phân tích khái niệm thông tin với góc độ ngôn ngữ học và ngôn ngữ được sử dụng trong khoa học hiện đại. Dưới góc độ nhận thức luận, thông tin là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan, được biểu hiện bằng các hệ thống ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh…Thông tin đồng nghĩa với các hình thái tri thức mới mẻ, có giá trị phát triển sự hiểu biết của con người (Lê Thị Duy Hoa, 1999).
Với cách hiểu này, thông tin được phân tích và nhận biết dựa trên sự phân tích về những giá trị, tri thức mới của con người. Dưới góc độ của lĩnh vực thống kê, thông tin được hiểu là một hệ thống những tin báo và mệnh lệnh giúp loại trừ sự không chắc chắn trong trạng thái của nơi nhận thông tin. Nói cách khác, người phân tích khái niệm về thông tin từ cách tiếp cận của khoa học thống kê cho rằng, thông tin là hệ thống các tin báo để loại trừ sự không chắc chắn. Sự không chắc chắn là trạng thái của nơi nhận tin khi đang chờ đợi một sự kiện xảy ra trong một tập các sự kiện (số lượng có thể Luan van 8 không biết trước hay không xác định được) có thể và chưa biết sự kiện nào có khả năng xảy ra (Hồ Văn Quân).
Qua các khái niệm trên, có thể thấy với mỗi cách tiếp cận khác nhau, với mỗi hoàn cảnh khác nhau thì thông tin lại được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Mặc dù vậy, những phân tích ở trên cũng cho thấy, thông tin được biểu hiện dưới nhiều hình thức như ngôn ngữ, chữ số, ký hiệu, sơ đồ, bảng biểu, thông số, công thức, nhận định, đánh giá…và được truyền tải dưới nhiều hình thức như báo chí, điện ảnh, truyền thanh, truyền hình, dữ liệu điện tử… Những thông tin dù được biểu hiện dưới hình thức nào cũng đều đem đến cho người đọc nó một sự hiểu biết, một cách nhìn nhận mới thông qua việc tra cứu hoặc phân tích các thông tin có trong bảng biểu, sơ đồ, trên các dữ liệu điện tử để phục vụ cho nhu cầu tìm hiểu và tra cứu của mình. Khái niệm về thông tin doanh nghiệp Thông tin doanh nghiệp bao gồm tất cả các thông tin liên quan đến tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của các DN. Về nội dung, các thông tin trên doanh nghiệp rất đa dạng và phức tạp.
Tùy theo yêu cầu và mục đích của người sử dụng thông tin mà có những loại thông tin khác nhau. Khái niệm công bố thông tin doanh nghiệp Công bố thông tin doanh nghiệp được hiểu là việc cung cấp các thông tin của doanh nghiệp cho các bên liên quan để phục vụ cho việc ra quyết định. Đối tượng sử dụng thông tin doanh nghiệp là bất kỳ tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kinh doanh của DN, gồm đối tượng bên trong DN và đối tượng bên ngoài DN. Vai trò của công bố thông tin Đối với nhà đầu tư: Trên TTCK, nhà đầu tư sẽ đối mặt với rủi ro rất lớn khi có được thông tin không chính xác, không kịp thời.
Do vậy, việc CBTT sẽ đáp ứng được nhu cầu thông tin của các nhà đầu tư, giúp cho các nhà đầu tư có được thông Luan van 9 tin một cách chính xác nhất. Việc công bố các thông tin định kỳ, bất thường sẽ giúp các nhà đầu tư có cái nhìn đầy đủ và khách quan hơn để nắm bắt thị trường nhằm phục vụ cho nhu cầu đầu tư của mình. Đối với chính công ty thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin: Lợi ích của việc thực thi nghĩa vụ CBTT không chỉ là những lợi ích ngắn hạn mà nó còn hướng đến các mục tiêu lâu dài hơn, đó chính là sự phát triển bền vững của công ty. Việc CBTT chính xác, minh bạch có ý nghĩa hết sức quan trọng trong tạo lập và duy trì niềm tin của công chúng đầu tư đối với doanh nghiệp.
CBTT giúp công chúng đầu tư nâng cao hiểu biết về cơ cấu và hoạt động của công ty, các chính sách của công ty liên quan đến các tiêu chuẩn môi trường và đạo đức, quan hệ của công ty với cộng đồng. Đây là phương thức quảng bá hình ảnh công ty một cách tốt nhất, nhờ đó cổ phiếu công ty được đánh giá đúng giá trị của nó, góp phần tạo nên tính thanh khoản đối với chứng khoán, làm tăng khả năng huy động vốn khi công ty phát hành chứng khoán. Mặc dù, giá cổ phiếu công ty có thể sẽ giảm khi hoạt động kinh doanh không hiệu quả được công ty công bố. Tuy nhiên, điều này vẫn có mặt tích cực của nó, bởi các thông tin trung thực chính là động lực để giúp công ty tìm ra phương án tốt nhất phát triển thương hiệu của mình.
Đối với cơ quan quản lý: Hệ thống thông tin trên TTCK phản ánh tính ổn định của thị trường, tính hiệu quả trong công tác quản lý của cơ quan chức năng và là cơ sở để cơ quan quản lý (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán) xây dựng, triển khai công tác giám sát, điều hành TTCK, cũng như hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật. Ngoài ra, thông qua hệ thống thông tin trên TTCK, cơ quan quản lý nắm bắt được tình hình, sức khỏe của doanh nghiệp cũng như nhà đầu tư, từ đó có những biện pháp đảm bảo sự phát triển ổn định của thị trường như kịp thời đưa ra các biện pháp xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK, có động thái trấn an nhà đầu tư khi TTCK xuất hiện các “tin đồn”, yêu cầu công ty giải trình khi có các dấu hiệu giao dịch bất thường… 1. Phân loại thông tin doanh nghiệp Có nhiều cách phân loại thông tin doanh nghiệp: Theo tính chất tài chính của thông tin Luan van 10 Thông tin tài chính Thông tin tài chính là những thông tin liên quan đến dòng tiền, kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Thông tin tài chính có thể là thông tin trong quá khứ hoặc thông tin mang tính dự báo.
Thông tin tài chính có thể được đo lường một cách chính xác và biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ. Thông tin tài chính thường được thể hiện trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp (Nivra, 2009). Thông tin phi tài chính Thông tin phi tài chính là tất cả những thông tin không phải là thông tin tài chính. Các thông tin này thường khó thiết lập các nguyên tắc, chuẩn mực để đánh giá mức độ chính xác, tin cậy của thông tin, có thể biểu hiện bằng giá trị hoặc phi giá trị, thường mang tính chất bổ sung, thuyết minh cho thông tin tài chính.
Thông tin phi tài chính có thể là thông tin về trình độ học vấn của các thành viên trong hội đồng quản trị, thông tin về phương pháp khấu hao mà doanh nghiệp sử dụng, các kế hoạch kinh doanh trong tương lai, thông tin về xung đột lợi ích của các bên liên quan… Ngoài ra, thông tin phi tài chính còn có thể nằm ở các báo cáo độc lập khác như: báo cáo về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, báo cáo về bảo vệ môi trường của DN… Theo tính chất bắt buộc của việc công bố thông tin Thông tin bắt buộc Thông tin bắt buộc là những thông tin mà việc công bố được coi là nghĩa vụ bắt buộc theo quy định của pháp luật. Với TTCK, việc công bố thông tin bắt buộc là quan trọng và cần thiết vì những thông tin này trực tiếp ảnh hưởng đến giá chứng khoán trên thị trường. Ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường sớm phát triển và có TTCK hoạt động hiệu quả, pháp luật của những nước này đều yêu cầu các doanh nghiệp phải công bố những thông tin như các báo cáo tài chính định kỳ, các hoạt động quan trọng khác được coi sẽ ảnh hưởng đến giá chứng khoán… Thông tin tự nguyện Luan van 11 Thông tin tự nguyện được hiểu là thông tin không bắt buộc phải công bố theo quy định luật pháp mà doanh nghiệp chủ động và tự nguyện công bố. Việc công bố thông tin tự nguyện nhằm mục đích nâng cao uy tín công ty, củng cố và tăng cường quan hệ với các nhà đầu tư và tránh các rủi ro phát sinh.
Công bố thông tin tự nguyện nhằm giới thiệu, giải thích về tiềm năng của công ty cho các nhà đầu tư, tăng cường tính thanh khoản của thị trường, đảm bảo việc phân bổ vốn hiệu quả hơn và giảm chi phí vốn, đồng thời hoàn thiện hơn cơ chế thông tin giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư. Tổng quan về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1. Khái niệm về trách nhiệm xã hội Trong cuốn sách Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, tác giả Michel Capron và Francoise Quairel - Lanoizelee cho rằng trách nhiệm được hiểu là điều kiện quy trách (imputability) những hành động cho chủ thể nào đó. Theo quan niệm này, trách nhiệm là cơ sở để đánh giá và quy trách nhiệm.
Phải chăng, hiểu ở nghĩa này, khái niệm trách nhiệm chỉ được sử dụng khi có hành vi gây hậu quả. Cũng trong cuốn sách trên, các tác giả đã chỉ rõ, về mặt từ nguyên học, thuật ngữ “trách nhiệm” - “respondere” có nguồn gốc từ tiếng Latinh, có nghĩa là “bảo đảm cho”, “sự đáp lại”. Kế thừa một số cách nhìn về trách nhiệm nêu trên, tác giả luận văn cho rằng, trách nhiệm là phạm trù phản ánh sự nhận thức và hành động của một chủ thể xã hội theo bổn phận vốn có của mình trong xã hội.