phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chƣơng chính dƣới đây: 6 (LUAN.noi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.noi Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo vệ an ninh môi trƣờng Chƣơng 2: Thực trạng việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo vệ an ninh môi trƣờng trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong việc bảo vệ an ninh môi trƣờng trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội 7 (LUAN.noi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.noi CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHỆP TRONG VIỆC BẢO VỆ AN NINH MÔI TRƢỜNG 1. Cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility - CSR) ra đời vào năm 1953 trong cuốn sách của H.Bowen với nhan đề “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Social Responsibilities of the Businessmen) nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi ngƣời quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của ngƣời khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội. Kể từ đó, chủ đề này đã gây ra cuộc tranh luận sôi nổi giữa hai trƣờng phái quản trị “đại diện” và “đa bên” trong quản trị công ty; trên bình diện lớn hơn, đây là sự tranh chấp giữa chủ nghĩa tƣ bản tự do (bảo thủ, cánh hữu) và chủ nghĩa tƣ bản xã hội (dân chủ, cánh tả).
Nội dung chính của cuộc tranh luận xoay quanh hai vấn đề then chốt trong CSR là: (i) bản chất của doanh nghiệp hiện đại, và (ii) mối quan hệ ba bên: doanh nghiệp - xã hội - nhà nƣớc. Trƣờng phái phản đối trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cho rằng các chƣơng trình của doanh nghiệp lấy tên “trách nhiệm xã hội” chỉ là những chƣơng trình truyền thông với mục tiêu cuối cùng vẫn là vì lợi nhuận của doanh nghiệp mà thôi. Những ngƣời ủng hộ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không bác bỏ toàn bộ những lập luận trên. Nhƣng họ đƣa ra một lập luận khác cũng hết sức thuyết phục là bản thân công ty khi đi vào hoạt động đã là một chủ thể của xã hội, sử dụng nguồn lực của xã hội và môi trƣờng, do đó có thể tác động tiêu cực tới xã hội và môi trƣờng.
Vì vậy, doanh nghiệp phải có ý thức về những tác động từ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và có trách nhiệm với chính hành vi của mình trƣớc xã hội. Henry Mintzberg đã lấy ví dụ công ty Dow Chemicals quyết định bán chất Napalm cho quân đội Mỹ để sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, để lại hậu quả nặng nề cho hàng triệu nạn nhân chất độc da cam. Có thể nói bản chất của doanh nghiệp không thể chỉ vì lợi nhuận mà doanh nghiệp ngay từ đầu đã đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn.noi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.noi Một số học giả cho rằng doanh nghiệp có thể hoạt động vì lợi nhuận nhƣng cần bù đắp lại chi phí xã hội, cũng nhƣ “trả tiền” cho các dịch vụ công mà doanh nghiệp hƣởng lợi thông qua việc đóng thuế, chúng ta sẽ thấy những ô nhiễm môi trƣờng và chi phí xã hội mà doanh nghiệp gây ra có thể lớn hơn rất nhiều lần lợi ích mà công ty này mang lại từ tiền thuế hay tạo việc làm (nhƣ trƣờng hợp công ty Vedan). Nhà quản trị với tƣ cách là ngƣời quản lý doanh nghiệp cần thực hiện các trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp vì nghĩa vụ và lợi ích của chính doanh nghiệp mình.
Trách nhiệm của họ không phải là việc quyết định điều gì tốt hay xấu cho xã hội, mà là đáp ứng những điều mà xã hội mong muốn và trông đợi ở doanh nghiệp nhƣ một thành viên đầy đủ trong đó. CSR chính là lực cản cuối cùng giúp giữ doanh nghiệp không đi quá đà vì lợi ích kinh tế mà vi phạm các chuẩn mực đạo đức (vốn không phải lúc nào cũng đƣợc thể hiện đầy đủ bằng các quy định pháp luật), bỏ quên những tác động tiêu cực của mình đến các thành phần khác trong xã hội. Thực hiện trách nhiệm xã hội cũng góp phần giúp cho doanh nghiệp phát triển bền vững. Thực tế cho thấy ngƣời tiêu dùng và nhà đầu tƣ ngày càng tính đến các tiêu chí thành tích của công ty về đạo đức, lao động, môi trƣờng, xã hội trong các quyết định tiêu dùng hay đầu tƣ của mình.
Hơn thế nữa, không chỉ liên quan đến tính cạnh tranh, CSR còn liên quan trực tiếp đến tính bền vững của công ty. Những vụ đổ vỡ của tập đoàn Enron, công ty kiểm toán Arthur Anderson, hoặc ngay vụ các cây xăng gian lận bị rút giấy phép là những minh chứng rõ nét nhất cho thấy rằng thiếu CSR, doanh nghiệp sẽ tự loại mình ra khỏi thị trƣờng và cộng đồng doanh nghiệp. Chính vì vậy mà tổ chức ISO đã xây dựng bộ tiêu chuẩn ISO 26000 (ra đời năm 2010) về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nhƣ một tài liệu hƣớng dẫn các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội. Tại Việt Nam, bên cạnh các dự án do các tổ chức phi chính phủ tài trợ về xây dựng và nâng cao năng lực thực hiện CSR cho các Doanh nghiệp Việt Nam, giới nghiên cứu cũng bắt đầu có những bài viết, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này.
Nigel Twose và Tara Rao (2003) đã thực hiện một báo cáo có tiêu đề “Thúc đẩy sự cam kết của chính phủ các quốc gia đang phát triển đối với trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp: Kết luận và kiến nghị từ Việt Nam”. Shizuo Fukada (2007) đã có nghiên cứu về Trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp tại Việt nam, thực trạng, tầm nhìn và thách 9 (LUAN.noi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.noi thức đối với các Doanh nghiệp Nhật Bản, trong khi Nguyễn Ngọc Thắng (2010) đã có nghiên cứu về vấn đề gắn quản trị nhân sự với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trong đó, tác giả đã chỉ ra các xu thế của CSR và hƣớng dẫn việc lồng ghép các hoạt động quản trị nhân sự với thực hiện trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp. Nguyễn Đình Cung, Lƣu Minh Đức (2008) cũng đã có bài viết về Trách nhiệm xã hội của Doanh nghiệp, một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới trong quản lý nhà nƣớc đối CSR ở Việt nam, đăng trên tạp chí Quản lý Kinh tế số 23.
Tại đó, các tác giả lƣợc lại các cuộc tranh luận về CSR và quá trình hình thành khái niệm CSR, điểm lại một số thực trạng thực hiện CSR tại Việt nam. Các tác giả cũng chỉ ra những tồn tại và yêu cầu đổi mới trong tƣ duy quản lý nhà nƣớc về CSR tại Việt Nam. Bên cạnh những công trình kể trên, một số tác giả khác với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những dữ liệu rất quan trọng liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Tuy nhiên các công trình này hầu hết chƣa đi sâu vào nghiên cứu từng khía cạnh cụ thể của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, cụ thể là 7 khía cạnh đƣợc đề cập trong Tiêu chuẩn ISO 26000:2010.
Những kết quả nghiên cứu đã nêu cũng là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng mà tác giả tham khảo trong quá trình hoàn thành luận văn này và trong những công trình nghiên cứu của mình về sau. Xu hướng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Quá trình hội nhập và toàn cầu hóa khiến cho bất cứ cá nhân hay tổ chức nào đều có thể dễ dàng tìm kiếm và truy cập để biết về mọi thông tin về các quyết định và các hoạt động của các doanh nghiệp. Điều này cũng có nghĩa là các quyết định và các hoạt động của doanh nghiệp đều có thể bị giám sát một cách kỹ lƣỡng bởi nhiều bên liên quan. Việc này khiến cho các doanh nghiệp cần tìm ra đƣợc những cách thức để triển khai công việc và giải quyết vấn đề sao cho an toàn và có lợi nhất trƣớc sự phán xét của công chúng thế giới.
Chính sách hoặc thực tiễn áp dụng của các doanh nghiệp tại các địa điểm khác nhau có thể dễ dàng đƣợc so sánh. Bên cạnh đó, hội nhập và toàn cầu hóa khiến các doanh nghiệp phụ thuộc nhau không chỉ ở góc độ địa lý mà còn do tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này khiến cho các vấn đề xảy ra trên phạm vi thế giới đều có thể ảnh hƣởng đến những doanh nghiệp cụ thể, ở những địa chỉ cụ thể. Điều quan trọng là các tổ chức, doanh nghiệp cần xác định 10 (LUAN.noi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.noi đƣợc rõ các trách nhiệm xã hội của mình mà không cần phân biệt hoàn cảnh xã hội hoặc trình độ phát triển kinh tế.
Các công cụ nhƣ Tuyên bố Rio về Môi trƣờng và Phát triển, Tuyên bố Johannesburg về Phát triển bền vững, các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và Tuyên bố ILO về các nguyên tắc và Quyền cơ bản tại nơi làm việc đã nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau trên toàn thế giới này. Trong những thập kỷ gần đây, toàn cầu hóa đã dẫn đến sự gia tăng ảnh hƣởng của các tổ chức khác nhau - bao gồm cả những tổ chức của khu vực tƣ nhân, các tổ chức phi chính phủ và tổ chức chính phủ đối với cộng đồng và môi trƣờng. Trong thời gian của cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính, tổ chức nên tìm cách duy trì hoạt động của họ liên quan đến trách nhiệm xã hội. Cuộc khủng hoảng nhƣ vậy có tác động đáng kể đến các nhóm có lợi ích dễ bị tổn thƣơng, và do đó cho thấy một nhu cầu lớn hơn đối với trách nhiệm xã hội tăng lên.
Sự mong đợi của xã hội về việc thực hiện của các doanh nghiệp tiếp tục phát triển. Một số lƣợng ngày càng tăng của các tổ chức đƣợc giao tiếp với các bên liên quan của họ, bao gồm cả việc lập các báo cáo trách nhiệm xã hội, để đáp ứng nhu cầu của họ để biết thông tin về hoạt động của doanh nghiệp. Chính vì vậy mà CSR đã trở thành một phong trào thực thụ và trƣởng thành, phát triển rộng khắp thế giới.