Chương 1: Cơ sở lý luận va tong quan nghiên cứu về các đặc điểm của UBKT và CBTT TNXH Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Kết luận và khuyến nghị 12 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TÔNG QUAN NGHIÊN CỨU VE CÁC ĐẠC ĐIEM CUA UY BAN KIEM TOAN VA CONG BO THONG TIN TRACH NHIEM XA HOI 1. Trach nhiệm xã hội doanh nghiệp (TNXH) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility - TNXHDN) hay còn được biết đến với vô số thuật ngữ và khái niệm khác nhau như trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, sự bền vững của doanh nghiệp, hoặc vai trò của doanh nghiệp trong xã hội đã thu hút được sự chú ý đáng kể trong giới học thuật cũng như những nhà đầu tư trong thực tế Benn & Bolton, 2011; Grayson & Hodges, 2004; Pearce & Manz, 2011). TNXHDN đã được chú ý từ những năm 1950, khi các công ty bắt đầu tuyên bố họ có trách nhiệm xã hội và hành động của họ có thể mang lại lợi ích cho cộng đồng. Tiếp sau đó, vào những năm 1960, TNXHDN đã trở thành nghĩa vụ đạo đức đối với các doanh nghiệp.
Các nhà nghiên cứu đã có gắng mở rộng việc mô ta TNXHDN vào năm 1980. Cuối cùng TNXHDN đã trở thành một phần không thể thiếu trong các kế hoạch chiến lược của công ty và nó đã trở thành một tài liệu tham khảo trung tâm của các các cơ quan quản lý và chính phủ (Moura-Leite va Padgett, 201 1). Theo các nghiên cứu trước đây, TNXHDN được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã được phát triển từ khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nhân được Bowen đề xuất vào năm 1953, với quan điểm rằng trách nhiệm xã hội liên quan đến “nghĩa vụ của doanh nhân trong việc thúc day các chính sách đó, đưa ra quyết định đó hoặc tuân theo những hành động phản ảnh mục tiêu và giá trị xã hội chung đã đặt ra”.
Theo Davis (1973), TNXHDN đề cập đến sự chú trọng và phản ứng của doanh nghiệp đối với những vấn đề vượt ra ngoài việc đáp ứng yêu cầu pháp lý, kinh tế và công nghệ. Trong khi đó, Carroll (1999) nhân mạnh rằng TNXHDN có phạm vi rộng hơn, bao gồm các van đề liên quan đến kinh tế, pháp lý, dao đức và các lĩnh vực khác mà xã hội mong đợi trong từng giai đoạn cụ thê. Theo Votaw (1972) đã cho răng TNXHDN là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng, môi trường nơi họ hoạt động, tuy nhiên thuật ngữ này có thể biến đổi tùy theo tổ chức cụ thé. Theo Carroll (1979), trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm việc đáp 13 ứng kỳ vọng về mặt kinh tế, pháp lý, đạo đức và sự tùy ý từ xã hội tại một thời điểm cụ thể.
Cách tiếp cận này bao gồm sự chịu trách nhiệm da dạng của một công ty. TNXHDN đại diện cho cách mà các công ty quản lý hoạt động kinh doanh dé tạo ra tác động tích cực đối với xã hội. Vì vậy, các công ty cần xem xét chất lượng quản lý của họ (bao gồm cả con người và quy trình) cũng như bản chất và phạm vi tác động của họ đối với xã hội trong các lĩnh vực khác nhau (Baker, 2004). Một tổ chức cần phải xác định vai trò của mình trong xã hội và tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức, trách nhiệm, pháp lý và xã hội cần thiết (Lindgreen và đồng nghiệp, 2008; Lichtenstein và đồng nghiệp, 2004).
Do đó, t6 chức có nghĩa vụ xem xét lợi ích của khách hàng, nhân viên, cổ đông, cộng đồng và các yếu tổ môi trường trong mọi khía cạnh hoạt động của họ (Gokulsing, 2011; Gossling và Vocht, 2007). Ủy ban Châu Âu (2002) cũng định nghĩa TNXHDN là sự tích hợp các vấn đề xã hội và môi trường vào hoạt động kinh doanh của họ (Elkington, 1997; Hou, 2019; Su & cộng sự, 2020) và sự tương tác của các công ty với các bên liên quan một cách tự nguyện (Waddock & Graves, 1997; Orlitzky & cộng sự, 2003; Peterson, 2004). Theo Matten và Moon (2004), TNXHDN là một thuật ngữ rộng lớn bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau như đạo đức kinh doanh, hoạt động từ thiện của doanh nghiệp, vai trò công dân của doanh nghiệp, bền vững và trách nhiệm môi trường. Đây là một khái niệm linh hoạt và liên tục đối mặt với những thách thức trong mỗi bối cảnh kinh tế, chính trị và xã hội đặc biệt.
Theo Kotler và Lee (2005), có sáu sáng kiến chính mà hầu hết các hoạt động liên quan đến TNXHDN đều tạo ra tác động tích cực đối với công ty. Thứ nhất, các công ty cung cấp vốn, đóng góp bằng hiện vật hoặc các nguồn lực khác của mình dé xây dựng nhận thức va tăng cường quan tâm về mục tiêu xã hội hoặc hỗ trợ việc gây quỹ, tham gia hoặc tuyển dụng tình nguyện viên cho mục tiêu cụ thể. Thứ hai, các tập đoàn cam kết đóng góp một phần trăm doanh thu cho mục đích cụ thể dựa trên doanh số bán sản phẩm. Thứ ba, các công ty hỗ trợ phát triển và/hoặc thực hiện các chiến dịch thay đổi hành vi nhằm cải thiện sức khỏe, an toàn, môi trường hoặc phúc lợi cộng đồng.
Thứ tư, các tập đoàn trực tiếp đóng góp cho các hoạt động từ thiện thông qua việc quyên góp tiền mặt và/hoặc dịch vụ bằng hiện vật. Thứ năm, các tập đoàn hỗ trợ và khích lệ các đối tác bán lẻ và/hoặc thành viên 14 nhượng quyền dành thời gian của họ để hỗ trợ các tổ chức và hoạt động cộng đồng địa phương. Cuối cùng, các tập đoàn áp dụng và thực hiện các hoạt động kinh doanh tùy ý nhăm ho trợ các mục tiêu xã hội nhăm cải thiện phúc lợi cộng đông va bảo vệ môi trường. Theo Ủy ban Kinh tế Thế giới về phát triển bền vững, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cam kết của họ trong việc đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững thông qua các hoạt động nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người lao động và các thành viên trong gia đình, đồng thời hướng tới lợi ích cho cộng đồng và xã hội, trong đó cả doanh nghiệp và sự phát triển chung của xã hội đều có lợi.
Mặc dù, có nhiều định nghĩa về TNXHDN và những định nghĩa này phát triển theo thời gian, mô hình của Carroll về TNXHDN được nhiều nghiên cứu trên thế giới tiếp cận và những nghiên cứu cụ thé ở những thị trường khác nhau. Carroll (1991) đã phân biệt các trách nhiệm khác nhau của tổ chức. Mô hình phân loại này được gọi là “Kim tự tháp TNXHDN” của một công ty. Philanthropic Be good responsibilities, corporate citizen Ethical Obligation to do responsibilities |what is right and fair, avoid harm Obey the law Legal Law is society’s codification responsibilities of right and wrong Be profitable Economic The foundation upon responsibilities which all others rest Hình 1.1: Mô hình kim tự tháp TNXHDN của Carroll (1991) Kim tự tháp được mô tả như một hệ thống phân cấp trách nhiệm, chuyên từ trách nhiệm kinh tế và pháp lý đến trách nhiệm đạo đức và từ thiện.
Ông lập luận rằng doanh nghiệp đóng vai trò cơ bản trong xã hội và phải chịu trách nhiệm kinh tế. Trách nhiệm kinh tế phản ánh bản chất của doanh nghiệp là tạo lợi nhuận. Điều này ngụ ý rằng xã hội mong đợi 15 doanh nghiệp sản xuất hàng hóa và dịch vụ cần thiết và tạo ra lợi nhuận như một phần thưởng hoặc sự khuyến khích cho hiệu suất làm việc của họ. Trách nhiệm pháp lý yêu cầu tuân thủ pháp luật va chơi theo luật chơi.
Từ góc độ này, xã hội kỳ vọng doanh nghiệp hoàn thành sứ mệnh kinh tế theo quy định của hệ thống pháp luật xã hội. Tất cả các công cô găng thực hiện trách nhiệm xã hội đều cần tuân thủ luật pháp (Crane và Matten, 2007). Sau quá trình nghiên cứu và phát triển, đến năm 1999 Carroll đã định nghĩa TNXHDN là “tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội mong đợi doanh nghiệp đáp ứng trong từng giai đoạn cụ thể”. Điều này có nghĩa rằng TNXHDN bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện.
Trach nhiệm đạo đức Hành xử đúng mực, không gây hại Trách nhiệm pháp lý Tuân thủ pháp luật Trách nhiệm kinh tế Tạo ra lợi nhuận, làm nên tảng cho các trách nhiệm khác Hình 1. Mô hình kim tự tháp TNXHDN của Carroll (1999) Trách nhiệm kinh tế đề cập đến hiệu suất kinh doanh, lợi nhuận và tăng trưởng kinh tế. Đây thường là ưu tiên hàng đầu của các doanh nghiệp vì việc tạo ra lợi nhuận cho cô đông là mục tiêu cốt lõi, ma đồng thời cũng là yếu tố quyết định sự tổn tại của doanh nghiệp. Vì vậy, các yêu tô khác phải dựa trên trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp.
e Trách nhiệm pháp lý có vai trò quan trọng trong việc đảm bao cam kết giữa doanh nghiệp và xã hội, nhằm tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng và nhất quán. e Trách nhiệm đạo đức bao gồm các quy tắc và giá trị mà xã hội chấp nhận và chia sẻ, tuy nhiên chúng không được đưa vảo các luật hay văn bản pháp luật chính thức. 16 e Trách nhiệm từ thiện là những việc doanh nghiệp tự nguyện thực hiện nhằm mang lại lợi ích cho xã hội như việc tạo cơ hội việc làm cho người khuyết tật hoặc tài trợ các dự án phi lợi nhuận phục vụ cho cộng động. Mô hình này khá cụ thể, có tính khả thi cao cho doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội.
Tuy nhiên, đề xuất của Carroll (1999) khiến cho doanh nghiệp có thể hiểu rằng, để phan dau thực hiện được nghĩa vụ ở cấp cao hơn thì phải thỏa mãn được những cấp thấp hơn trước và có sự phân biệt khá rạch ròi giữa đạo đức và từ thiện, giữa nghĩa vụ kinh tế và nghĩa vụ pháp lý. Trên thực tế, các yếu tố vẫn lồng ghép vào nhau và nhiều khi tồn tại song song trong cùng một sự việc chỉ băng cách nhìn vân đê ở những góc khác nhau. Mô hình này cung cấp một hướng tiếp cận cụ thé và kha thi cho doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội. Tuy nhiên, đề xuất của Carroll (1999) đặt ra vấn đề cho doanh nghiệp rằng dé đạt đến những cam kết ở cấp cao hơn, doanh nghiệp cần thực hiện những cam kết ở cấp thấp hơn trước, và đồng thời có sự phân biệt rõ ràng giữa đạo đức và từ thiện, trách nhiệm kinh tế và trách nhiệm pháp lý.