Chương 1: Tông quan nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích việc thực hiện trách nhiệm xã hội của tập đoàn viễn thông quân đội Viettel Chương 4: Thảo luận và đề xuất giải pháp cho việc phát triển thực hiện trách nhiệm xã hội tại Tập đoàn Công nghiệp — Viễn thông Quân đội Viettel Phần kết luận: Tóm tắt lại những gì đã đạt được trong bài nghiên cứu II. PHAN NỘI DUNG CHUONG 1: TONG QUAN NGHIEN CUU VA CO SO LY LUAN 1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1.1 Tổng quan tài liệu trong nước Tại Việt Nam, CSR vẫn còn đang là một vấn đề khá mới mẻ khi mặc dù khái niệm này đã xuất hiện từ những năm 1990 nhưng phải đến những năm gần đây, khi mà các tập đoàn đa quốc gia đầu tư mạnh mẽ vào Việt Nam và mang các tiêu chuẩn về CSR tại quốc gia của họ đến đây thì vấn đề này mới được chú trọng đến. Các doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu biết coi trọng việc phát triển bền vững. Các doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu thực hiện các hoạt động CSR nhằm bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động và đóng góp cho cộng đồng.
Các nhà nghiên cứu tại Việt Nam có thé viết các cơ sở lý thuyết đề từ đó làm nên tảng cho các doanh nghiệp dựa vào đó và thực hiện TNXH của mình. Dưới đây là một số bài nghiên cứu về vấn đề này tại Việt Nam: Nguyễn Ngọc Thắng, 2010, “Gắn quản trị nhân sự với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”. Bài nghiên cứu này nhằm mục đích làm rõ hơn các nhân tố chính của CSR, xu thế của CSR và hướng dẫn việc lồng ghép các hoạt động quản trị nhân sự (Human Resource Management - HRM) với CSR. Tran Thị Hiền, 2021, “Trach nhiệm xã hội của doanh nghiệp và sự gắn kết của nhân viên: Nghiên cứu tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam”.
Bài viết đưa ra hàm ý cho dù nguồn lực còn hạn chế, SMEs ở Việt Nam vẫn có thể tìm ra hướng đi cho mình đề khang định là doanh nghiệp có TNXH, từ đó dẫn tới người lao động gắn kết với doanh nghiệp hơn. Nguyễn Văn Anh, Nguyễn Thị Phương Thảo, 2021, “Mối quan hệ của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đối với lòng trung thành của khách hàng - Một nghiên cứu tại thị trường Việt Nam”. Nhóm tác giả đã tiến hành thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh giá mối quan hệ giữa hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) va lòng trung thành của khách hàng thông qua các yếu tố niềm tin (trust), sự gắn kết của khách hàng đối với doanh nghiệp (customer company identify) và sự hài lòng. Nghiên cứu này giúp cho nhà quản lý doanh nghiệp đưa ra những chính sách quản lý hiệu quả hon và có cái nhìn mới về hoạt động CSR cũng như những giá trị mà CSR đem lại.
Mặt khác, khi khách hàng có cái nhìn tích cực về doanh nghiệp sẽ mang lại nhiều lợi ích, góp phan nâng cao giá trị thương hiệu, uy tín của doanh nghiệp, nang cao lợi thé cạnh tranh hướng tới phát triển bền vững. Hà Thị Thủy, 2019, “Thực trạng công bố thông tin trách nhiệm xã hội (CSR) của các công ty niêm yết tại Việt Nam”. Các doanh nghiệp VN muốn tiếp cận được dòng vốn đầu tư từ các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài, họ cần quan tâm hơn nữa trong việc thúc day các hoạt động thé hiện TNXH của minh và công bó day đủ các thông tin này cho các bên liên quan, đây là xu hướng tat yếu về nhu cầu thông tin trong bối cảnh các quốc gia đều hướng đến mục tiêu phát triển bền vững như hiện nay. Bài viết này nhằm phân tích thực trạng vấn đề công bồ thông tin TNXH của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam hiện nay thông qua phương pháp phân tích thống.
kê mô tả. Dựa trên kết quả nghiên cứu đạt được, một số đề xuất nhằm nâng cao mức độ công bó thông tin TNXH và các đề xuất liên quan đến đào tạo nhằm nâng cao ý thức về TNXH đối với sinh viên cũng sẽ được tác giả đề cập trong bài viết này. Cao Thị Miêu Thùy và cộng sự, 2022, “Cong bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và bat cân xứng thông tin: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam”. Các nghiên cứu hiện nay đang tranh luận rằng công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility Disclosure -CSRD) có thực sự hữu ích cho doanh nghiệp hay chỉ đơn thuần là công cụ tư lợi của nhà quản lý.
Để làm rõ quan điểm này, tác giả phân tích liệu CSRD có làm giảm sự Bất Cân Xứng Thông Tin nảy sinh giữa hai bên ủy quyền và đại diện. Dựa trên bộ Tiêu chí GRI (Global Sustainability Standards Board, 2016), tác giả dùng phương pháp phân tích nội dung dé xây dựng chỉ số đo lường mức độ CSRD của các doanh nghiệp niêm yết. Để tăng tính vững, tác giả sử dụng ước lượng mô men tổng quát và một sô êm định liên quan. Các phát hiện cho thấy CSRD làm giảm thiểu Bat Cân Xứng Thông Tin nảy sinh từ vấn đề đại diện trong công ty niêm yết.
Hàm ý rằng việc đầu tư vào CSRD có thể giúp công ty giải quyết tình trạng Bất Cân Xứng Thông Tin và thông qua đó giảm chỉ phí đại diện.2 Tổng quan tài liệu quốc tế Trên Thế giới, việc hình thành nên khái niệm CSR có từ những năm 1950 khi mà các doanh nghiệp đã bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của việc đóng góp cho xã hội và bảo vệ môi trường. Dưới đây là một số bài nghiên cứu có liên quan về vấn đề này của các nhà nghiên cứu trên Thế giới: Kanji Tanimoto & Kenji Suzuki, 2005, “Corporate social responsibility in Japan: analyzing the participating companies in global reporting initiative”. Tác giả ở đây đã cho thay cách tiếp cận của Nhật Bản đối với CSR có thể khác với cách tiếp cận của phương Tây, do có nhiều khác biệt về đặc điểm kinh tế xã hội Carlos Noronha, Si Tou, M. Cynthia and Jenny J.
Guan, 2011, “Corporate Social Responsibility Reporting in China: An Overview and Comparison with Major Trends”. Với tai liệu ít ỏi về báo cáo trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) ở Trung Quốc đại lục, đặc biệt là ở giới học thuật phương Tây, bài viết này nhằm mục đích cung cấp cái nhìn tổng quan về CSR yêu cầu báo cáo ở quốc gia đó. So sánh với các xu hướng báo cáo chính như việc áp dụng GRI-G3 được thực hiện để hiểu rõ hơn về sự phát triển CSR ở Trung Quốc. Mare Orlitzky, Frank L.
Rynes, 1999, “Corporate Social and Financial Performance: A Meta-analysis”. Hau hết các lý thuyết về mối quan hệ giữa xã hội/môi trường của doanh nghiệp hiệu suất (CSP) và hiệu quả tài chính doanh nghiệp (CFP) giả định rằng bằng chứng hiện tại quá rời rac hoặc quá thay đổi dé đưa ra bất kỳ kết luận khái quát nào. Những phát hiện phân tích tong hợp cho thấy dao đức doanh nghiệp dưới hình thức trách nhiệm xã hội và, ở mức độ thấp hơn, trách nhiệm môi trường có thể sẽ được đền đáp, mặc dù việc vận hành CSP và CFP cũng điều tiết mối liên hệ tích cực. A, 2022, “Sustainable development goals (SDGs) as a framework for corporate social responsibility (CSR)”.
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) đã được thực hiện rõ ràng trong hơn 7 thập kỷ. Tuy nhiên, hầu hết các công ty đều thiếu một khuôn khổ tích hợp để phát triển cách tiếp cận chiến lược, cân bằng và hiệu quả nhằm đạt được sự xuất sắc trong CSR. Xem xét tình hình nghiêm trọng của Thế giới trong đại dịch COVID-19, khuôn khổ như vậy hiện nay thậm chí còn quan trọng hơn. tác giả khuyên các doanh nghiệp nên sử dụng việc gộp CSR trong Mục tiêu phát triển bền vững (SDG) vì SDG là một chương trình nghị sự toàn diện được thiết kế cho toàn cầu.
Nghiên cứu này trình bày mô hình trình điều khiển CSR mới và mô hình CSR toàn diện mới. Sau đó, nó nêu bật những lợi thế của việc tích hợp CSR và SDG trong một khuôn khổ mới. Khung đề xuất mang lại lợi ích từ cả CSR và SDG, giải quyết các nhu cầu hiện tại và tương lai, đồng thời đưa ra lộ trình tốt hơn với nhiều kết quả có thể đo lường được hơn. Carroll, 1999, “The Pyramid of Corporate Social Responsibility: Toward the Moral Management of Organizational Stakeholders”.
Bài viết này sẽ khám pha bản chất của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) nhằm tìm hiểu các bộ phận cấu thành của nó. Các mục đích sẽ là mô tả đặc điểm CSR của công ty trong những cách có thể hữu ích cho các giám đốc điều hành, những người mong muốn dung hòa nghĩa vụ của họ đối với các cô đông với những nghĩa vụ phải thực hiện các nhóm cạnh tranh khác đòi hỏi tính chính đáng. Cuộc thảo luận này sẽ được gói gọn trong một kim tự tháp trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Tiếp theo, tác giả dự định liên hệ khái niệm này với ý tưởng của các bên liên quan.
Cuối cùng, mục tiêu của tác giả sẽ là tách biệt thành phần đạo đức hoặc đạo đức của CSR và liên hệ nó đến ba cách tiếp cận đạo đức chính đối với quản lý - vô đạo đức, vô đạo đức và đạo đức. Mục tiêu chính trong phần cuối cùng này sẽ là xác định rõ việc quản lý các bên liên quan theo cách có đạo đức hoặc đạo đức có nghĩa là gì.3 Khoảng trồng nghiên cứu Các tài liệu nghiên cứu ở trên đã chỉ ra được những gì ma CSR có thé đem lại cho các doanh nghiệp và cho xã hội. Các bài nghiên cứu đã chỉ ra hàng loạt các khung tiêu chuẩn được dùng cho việc đo lường và đánh giá việc thực hiện TNXH tại nước sở tại của họ. Và có một bài nghiên cứu của tác giả Phan Văn Thiện cũng đã phân tích về việc thực hiện TNXH tại Viettel theo mô hình của Carroll.
Thế nhưng đây đã là bài nghiên cứu từ lâu và bây giờ tại Viettel, họ đã áp dụng thêm một tiêu chuẩn dùng để đánh giá và đo lường việc thực hiện TNXH của mình đó là SDG của Liên Hợp Quốc. Từ đó, tác giả đã kế thừa và thực hiện bài nghiên cứu của mình dựa trên việc phát huy những gì mà tác giả Phan Văn Thiện đã thực hiện và bô sung thêm những điều mới trong việc thực hiện TNXH tại Viettel.2 Các khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1.