CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về kế toán trách nhiệm Trong quá trình quản lý, các cá nhân, bộ phận được giao quyền ra quyết định và chịu trách nhiệm để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nào đó. Việc phân quyền trong tổ chức tạo nên cơ cấu phức tạp và đòi hỏi cấp trên phải nắm được kết quả thực hiện của cấp dưới.
Vì thế, kế toán trách nhiệm được xây dựng để theo dõi kết quả, hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong doanh nghiệp. Kế toán trách nhiệm là hệ thống kế toán cung cấp thông tin về kết quả, hiệu quả hoạt động của các bộ phận, các đơn vị trong một doanh nghiệp. Đó là công cụ đo lường, đánh giá hoạt động của những bộ phận liên quan đến đầu tư, lợi nhuận, doanh thu, chi phí mà bộ phận đó có quyền kiểm soát và trách nhiệm tương ứng.( Phan Đức Dũng, 2009 ) Kế toán trách nhiệm được hiểu là hệ thống thu thập và báo cáo các thông tin về hoạt động của từng nhóm trách nhiệm. Các cấp quản lý sẽ phải chịu trách nhiệm về lĩnh vực quản lý của mình, và tất cả các hoạt động khác thuộc trách nhiệm của họ.( Phan Đức Dũng, 2009 ) Vậy kế toán trách nhiệm là một hệ thống thừa nhận mỗi bộ phận (thành viên, con người) trong một tổ chức có quyền chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ riêng biệt thuộc phạm vi quản lý của mình, họ phải xác định và báo cáo cho tổ chức, thông qua đó các cấp quản lý cấp cao hơn sử dụng các thông tin này để đánh giá thành quả của các bộ phận trong tổ chức.
8 Hay nói cách khác, KTTN trong một tổ chức chính là việc thiết lập quyền hạn, trách nhiệm của mỗi bộ phận, thành viên và một hệ thống chỉ tiêu, báo cáo thành quả của mỗi bộ phận thành viên. Lý thuyết đại diện và kế toán trách nhiệm Jensen and Mec-kling (1976) xác định mối quan hệ đại diện (hay quan hệ ủy thác) như là quan hệ hợp đồng mà theo đó các cổ đông (những người chủ -principals), bổ nhiệm, chỉ định người khác, người quản lý Công ty (người đại diện -agents), để thực hiện việc quản lý Công ty cho họ mà trong đó bao gồm cả việc trao thẩm quyền để ra quyết định định đoạt tài sản của Công ty. Lý thuyết về đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý Công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý Công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông. Mối quan hệ đại diện còn thể hiện trong mối quan hệ giữa nhà quản lý cấp cao với nhà quản lý các cấp thấp hơn trong hệ thống phân quyền, giữa nhà quản lý với người trực tiếp sử dụng các nguồn lực của tổ chức.
Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột sẽ phát sinh khi có thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa chủ thể và đại diện trong Công ty. Cả hai bên có lợi ích khác nhau và vấn đề này được giảm thiểu bằng cách sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý Công ty, thông qua thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản trị, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của người quản lý Công ty. Theo Healy và Palepu (2001) hợp đồng tối ưu giữa nhà quản trị với nhà đầu tư, thỏa thuận thù lao và tiền thưởng của nhà quản trị, giải pháp dung hòa lợi ích giữa nhà quản trị doanh nghiệp (DN) (và chủ DN) với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài. Những hợp đồng này thường yêu cầu DN phải sử dụng 9 thông tin được cung cấp bởi hệ thống KTQT như: hệ thống ngân sách, thông tin kiểm soát chi phí, phân bổ các nguồn lực.
để nhà đầu tư đánh giá sự tuân thủ những cam kết trong hợp đồng và đánh giá nhà quản trị DN có quản trị các nguồn lực của Công ty gắn với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài. Lý thuyết đại diện giải thích vì sao phải áp dụng hệ thống KTTN trong DN và đối với các Công ty cổ phần, Công ty niêm yết hệ thống KTQT cần cung cấp những thông tin gì để đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư và các cổ đông. Đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam khi mà chưa có một thị trường chứng khoán phát triển hoàn chỉnh thì các thông tin KTQT DN cung cấp chính xác và đầy đủ thực sự có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư. Lý thuyết đại diện cũng là cơ sở để xây dựng các báo cáo nội bộ trong DN, các báo cáo đánh giá trách nhiệm phù hợp với hệ thống phân quyền trong các DN Việt Nam.
Vai trò của kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp KTTN là một phương pháp phân chia cấu trúc của một tổ chức thành những trung tâm trách nhiệm khác nhau để đo lường biểu hiện của chúng. Nói cách khác, KTTN là một công cụ để đo lường về kết quả hoạt động của một khu vực nào đó trong tổ chức, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị của từng cấp quản trị khác nhau. Vai trò của KTTN được thể hiện trong những khía cạnh sau: Thứ nhất: KTTN giúp xác định sự đóng góp của từng đơn vị, bộ phận vào lợi ích của toàn bộ tổ chức. Thứ hai: KTTN cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lượng về kết quả hoạt động của các nhà quản lý bộ phận.
Thứ ba : KTTN được sử dụng để đo lường kết quả hoạt động của các nhà quản lý và do đó, nó ảnh hưởng đến cách thức thực hiện hành vi của các nhà quản lý này. 10 Thứ tư: KTTN thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận của mình theo phương cách phù hợp với những mục tiêu cơ bản của toàn tổ chức. PHÂN CẤP QUẢN LÝ- CƠ SỞ HÌNH THÀNH KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 1. Khái niệm về phân cấp quản lý Các nhà quản lý nhận thấy rằng hệ thống KTTN chỉ phát huy tác dụng và hoạt động có hiệu quả nhất trong những tổ chức thực hiện sự phân cấp trong quản lý.
Hầu hết các tổ chức có qui mô lớn đều thực hiện phân cấp quản lý. Sự phân cấp quản lý xảy ra khi các nhà quản lý của các đơn vị và các bộ phận trong tổ chức được trao quyền tự do trong việc ra quyết định. Để hiểu được các mục đích của hệ thống KTTN, cần thiết phải xem xét các lợi ích và chi phí của việc phân cấp quản lý. Phân cấp quản lý là việc người quản lý giao quyền ra quyết định cho cấp quản lý thấp hơn trong quá trình hoạt động của DN.
Và cấp dưới đó chỉ ra quyết định trong phạm vi trách nhiệm của mình. Tùy theo từng DN, mức độ phân chia có thể khác nhau, gồm nhiều cấp độ hay chỉ một cấp và việc giao quyền quyết định có thể nhiều hay ít. Nếu quyền lực được phân tán quá rộng xuống cấp dưới thì nhà quản trị sẽ gặp khó khăn trong việc kiểm tra, giám sát, hoạt động của các bộ phận sẽ không đảm bảo được tính thống nhất. Ngược lại, nếu DN tập trung quyền lực, trực tiếp quản lý điều hành xử lý những công việc mang tính chất tác nghiệp đến những công việc mang tính chất chiến lược thì sẽ dẫn đến tình trạng sa đà vào những công việc vụn vặt, hàng ngày, và gặp khó khăn trong khâu hoạch định các chiến lược phát triển.
Các nhà quản lý cho rằng KTTN gắn liền với sự phân cấp quản lý, hệ thống KTTN hoạt động thực sự hiệu quả trong các tổ chức mà sự phân quyền được thực hiện phù hợp với cơ cấu tổ chức của nó. Phân cấp quản lý cao hay 11 thấp sẽ quyết định hệ thống kế toán được tổ chức như thế nào: Tập trung, phân tán, vừa tập trung vừa phân tán. Như vậy, phân cấp quản lý là sự phân quyền cho cấp dưới, dẫn đến sự phân định rõ ràng về quyền lợi và trách nhiệm trong quản lý cho cấp dưới dựa trên cơ sở cấu trúc phân quyền mà nhà quản trị đã lựa chọn. Ý nghĩa của phân cấp quản lý Thứ nhất: Giúp ban quản lý cấp cao tập trung vào việc ra quyết định dài hạn.
Sự phân cấp quản lý trải rộng việc quyết định cho nhiều cấp quản lý. Do vậy, ban quản lý cấp cao hơn không phải giải quyết các vấn đề xảy ra hàng ngày nên họ có thể tập trung vào việc lập ra các kế hoạch dài hạn và điều phối hoạt động của các bộ phận trong tổ chức, đảm bảo thực hiện hài hòa các mục tiêu chung. Thứ hai: Giúp nhà quản lý các cấp độc lập trong việc điều hành, phát huy được kỹ năng, nâng cao chuyên môn, năng lực quản lý tạo động lực sáng tạo trong công việc. Thứ ba: Giúp nhà quản lý các cấp hài lòng trong công việc.
Do được sáng tạo trong công việc tự ra quyết định trong công việc nên họ có được sự hài lòng và từ đó động viên họ nỗ lực hơn nữa trong công việc để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Thứ tư: Giúp tìm ra nguyên nhân và xử lý công việc một cách nhanh chóng và tốt nhất. Do các cấp quản lý khác nhau có quyền hành và nhiệm vụ khác nhau nên khi xảy ra sự cố sẽ biết sự cố đó thuộc cấp quản lý nào và người quản lý cấp đó thường xuyên tiếp xúc với công việc và sẽ biết sự cố đó là do đâu và tìm ra cách xử lý tốt nhất và nhanh nhất so với nhà quản lý cấp cao. Đây chính là điều thuận lợi nhất mà phân cấp quản lý đưa lại cho doanh nghiệp.
Những tác động của phân cấp quản lý tới kế toán trách nhiệm Hệ thống KTTN chỉ tồn tại, hoạt động có hiệu quả trong các tổ chức có phân quyền, ở đó quyền ra quyết định và trách nhiệm được trải rộng trong toàn bộ tổ chức. Các cấp quản lý khác nhau được quyền ra quyết định và chịu trách nhiệm trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của họ. Trên cơ sở quyền hạn và trách nhiệm dẫn đến nhu cầu về thiết lập các trung tâm trách nhiệm gắn liền với chức năng, nhiệm vụ cụ thể, diễn ra quá trình đánh giá trách nhiệm của các cấp quản lý hàng kỳ.