phần mở đầu; 3 chương (8 tiết); kết luận; danh mục các công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận văn; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG Ở TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI 1. Dịch vụ viễn thông và phát triển bền vững 1.Dịch vụ viễn thông 1. Quan niệm về dịch vụ viễn thông Trong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi được gọi chung là dịch vụ; đồng thời, dịch vụ lại bao gồm rất nhiều loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau.
Khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng và dịch vụ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau, từ kinh tế học đến văn hóa học, luật học, từ hành chính học đến khoa học quản lý. Do vậy mà có nhiều khái niệm về dịch vụ theo cách hiểu khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công”. Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất; bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ.và mang lại lợi nhuận.
Kotler, Philip trong cuốn sách Quản trị Marketting cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”. Kế thừa những quan niệm đã trên, có thể hiểu quan niệm: dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người. Trong phạm vi đề tài luận văn, dịch vụ được xem là một lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân bao hàm tất cả những hoạt động phục vụ sản xuất và đời sống dân cư, trong đó có DVVT.
9 Thuật ngữ “viễn thông” xuất phát từ thuật ngữ “tele” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là xa và từ “communicare” của tiếng La tinh có nghĩa là thông báo, miêu tả một cách tổng quát tất cả các hình thức trao đổi thông tin qua một khoảng cách nhất định mà không phải chuyên chở những thông tin này đi một cách cụ thể. Theo nghĩa hẹp hơn, viễn thông được hiểu là cách thức trao đổi thông tin, dữ liệu thông qua kỹ thuật điện, điện tử và các công nghệ hiện đại khác. Các DVVT đầu tiên theo nghĩa này là điện báo và điện thoại, sau dần phát triển thêm các hình thức truyền đưa số liệu, hình ảnh, v. Điều 3 Luật Viễn thông của Việt Nam, chỉ rõ: DVVT là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm người sử dụng DVVT.
Như vậy, DVVT nói chung là một tập hợp các hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, tạo ra chuỗi giá trị và mang lại lợi ích tổng hợp. Khi nói đến DVVT là nói đến một hệ thống cung cấp DVVT, bao gồm các yếu tố cấu thành nên mạng lưới cung cấp: khách hàng, nhà cung ứng, môi trường trao đổi thông tin và các DVVT do nhà cung ứng cung cấp. Trong đó, khách hàng là người có nhu cầu trao đổi thông tin và là người sử dụng DVVT đó. Họ có thể là những cá nhân, tập thể, các tổ chức doanh nghiệp hay Chính phủ.
Nhà cung ứng là các doanh nghiệp cung cấp một số hay phần lớn DVVT. Môi trường vật chất cần thiết cho việc cung ứng DVVT bao gồm hệ thống tổng đài, thiết bị chuyển mạch, truyền dẫn, hệ thống mạng cáp, hệ thống nhà trạm, quầy giao dịch. và con người trong doanh nghiệp. Dịch vụ viễn thông bao gồm rất nhiều lĩnh vực, xuất phát từ góc độ nghiên cứu khác nhau sẽ có những phạm vi nghiên cứu khác nhau.
Theo đó, luận văn tập trung nghiên cứu ba loại hình sản phẩm dịch vụ chủ yếu, cơ bản của ngành viễn thông là: viễn thông cố định, viễn thông di động và internet. Dịch vụ viễn thông cố định là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết nối của mạng cố định. Dịch vụ viễn thông di động là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết nối của mạng di động. 10 Dịch vụ internet là một loại hình DVVT, bao gồm dịch vụ truy nhập internet, dịch vụ kết nối internet và dịch vụ ứng dụng internet trong viễn thông.
Cả ba DVVT cố định, di động và internet đều giống nhau là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin. Tuy nhiên, cơ chế, cách thức thực hiện, đặc trưng, sự tiện ích, giá cả, sự thỏa mãn khách hàng giữa 3 loại hình dịch vụ này là khác nhau nên có kết quả kinh doanh và sự cạnh tranh mang đặc trưng khác nhau. Trên cơ sở những định nghĩa và phân loại DVVT nói trên, có thể hiểu DVVT là những quan hệ kinh tế giữa người cung ứng và người tiêu dùng sản phẩm viễn thông. Trong đó, người cung ứng DVVT là các doanh nghiệp kinh doanh viễn thông; người tiêu dùng DVVT là khách hàng sử dụng DVVT.
Quan hệ kinh tế giữa người cung ứng và tiêu dùng DVVT được thực hiện thông qua thị trường; thể hiện đằng sau các phạm trù: thuê bao, doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận. của doanh nghiệp cung ứng dịch vụ, cũng như các phạm trù: mua - bán, cung - cầu, giả cả DVVT giữa bên cung ứng và bên mua dịch vụ. Thị trường DVVT được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các khách hàng sử dụng, các nhà cung cấp, mối quan hệ cung cầu giữa họ tác động qua lại để xác định giá cả, số lượng và chất lượng sản phẩm DVVT. Đặc điểm của dịch vụ viễn thông Một là, sản phẩm DVVT không phải là một sản phẩm vật chất chế tạo mới, không phải là hàng hoá cụ thể, mà là kết quả có ích cuối cùng của quá trình truyền đưa tin tức dưới dạng dịch vụ.
Hai là, sản phẩm DVVT không dự trữ được trong kho. Hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức được tiêu dùng ngay trong quá trình cung ứng. Vì vậy, DVVT không thể cất giữ được ở trong kho, không dự trữ được, không thể thu hồi sản phẩm cho vào quay vòng, tái sản xuất mà chỉ có thể dự trữ ở dạng năng lực cung ứng. Đặc điểm này yêu cầu về chất lượng DVVT phải rất tốt, nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp ngay đến tiêu dùng.
Hơn nữa, để sử dụng DVVT, người sử dụng phải có mặt ở những vị trí, địa điểm xác định của nhà cung cấp dịch vụ hoặc nơi có thiết bị của nhà cung cấp dịch vụ. 11 Ba là, xuất hiện không đồng đều về không gian và thời gian. Thông thường, nhu cầu truyền đưa tin tức phụ thuộc vào nhịp độ sinh hoạt của xã hội. Vào những giờ ban ngày, giờ làm việc của các cơ quan, doanh nghiệp, vào các kỳ hội, lễ tết thì lượng nhu cầu rất lớn.
Trong điều kiện yêu cầu phục vụ không đồng đều, để thoả mãn tốt nhu cầu của khách hàng, các doanh nghiệp cung cấp DVVT phải dự trữ đáng kể năng lực cung ứng và các nguồn lực. Bốn là, đối tượng lao động chỉ chịu tác động dời chỗ trong không gian. Sự khác biệt so với ngành sản xuất công nghiệp, nơi mà đối tượng chịu sự thay đổi vật chất (về mặt vật lý, hoá học,.), còn trong cung ứng DVVT, thông tin là đối tượng lao động chỉ chịu tác động dời chỗ trong không gian. Thậm chí, nếu thông tin trong quá trình truyền tải nhờ các thiết bị viễn thông được biến đổi thành các tín hiệu thông tin điện, thì ở các nơi nhận tín hiệu phải được khôi phục trở lại trạng thái ban đầu của nó.
Mọi sự thay đổi thông tin, đều có nghĩa là sự méo mó, mất đi giá trị sử dụng và dẫn đến tổn thất lợi ích của khách hàng. Năm là, quá trình truyền đưa tin tức luôn mang tính hai chiều giữa người gửi và người nhận thông tin. Nhu cầu truyền đưa tin tức có thể phát sinh ở mọi điểm dân cư, điều đó đòi hỏi phải hình thành một mạng lưới cung cấp dịch vụ có độ tin cậy, rộng khắp. Phát triển bền vững 1.
Quan niệm về phát triển bền vững Phát triển là một quá trình tăng trưởng quy mô về số lượng và chất lượng. Mục tiêu phát triển của các quốc gia là nâng cao điều kiện và chất lượng cuộc sống của con người, như: nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sử dụng hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng, làm cho con người ít phụ thuộc vào thiên nhiên, tạo lập nên cuộc sống công bằng và bình đẳng giữa các thành viên. Tuy nhiên, phát triển kinh tế cũng phải coi trọng vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường, vì cần phải tính đến lợi ích chung của cộng đồng xã hội và của các thế hệ tương lai. Tất cả những yêu cầu trên dẫn đến sự ra đời một quan niệm mới “phát triển bền vững”.
Đến Hội nghị của Liên hợp quốc về Môi trường con người (năm 1972 tại 12 Stockholm), tầm quan trọng của vấn đề phát triển bền vững mới chính thức được thừa nhận. Đầu năm 1980, thuật ngữ "phát triển bền vững" được xuất hiện trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học. Chiến lược này chỉ nhấn mạnh phát triển bền vững ở góc độ bền vững về sinh thái với ba mục tiêu: duy trì hệ sinh thái cơ bản và những hệ hỗ trợ sự sống; bảo tồn tính đa dạng di truyền; bảo đảm sử dụng bền vững các loài và các hệ sinh thái.