CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP VÀ TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1. Các học thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Cụm từ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) chỉ mới được nhắc đến vào những năm 1930 sau khi sự sụp đổ của Phố Wall năm 1929 bộc lộ sự vô trách nhiệm của doanh nghiệp trong các tổ chức lớn1. Tuy nhiên, đến những năm 1950, thuật ngữ này mới chính thức được ghi nhận trong tác phẩm Social Responsibilities of the Businessman của tác giả Howard R.
Tác phẩm chỉ ra rằng, các mục tiêu mà các nhà kinh doanh định hướng phải xét đến trong chừng mực họ sẵn sàng hoặc có thể cân nhắc các hậu quả xã hội của hành động của họ là gì? Tức cần xét đến những yếu tố mà định hướng của nhà kinh doanh có thể tác động đến cho xã hội2. Sự hiểu biết về CSR đã phát triển kể từ đó và phạm vi của CSR giờ đây có thể được ghi nhận trong các văn bản pháp luật, trong các nguyên tắc ứng xử không thể thiếu của các doanh nghiệp khi hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các học thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ra đời, song, không phải lúc nào cũng nhận được sự ủng hộ từ tất cả các nhóm chủ thể trong xã hội. Các tranh cãi bắt đầu nổ ra.
Giáo sư Milton Friedman của Đại học Chicago, cho rằng “CSR về cơ bản là một ý tưởng vô đạo đức, vi phạm quyền của “chủ sở hữu” doanh nghiệp”3 bởi việc đặt ra quá nhiều các nghĩa vụ, sử dụng nguồn lực của công ty mà không tập trung vào việc sản xuất kinh doanh. Trên thực tế, cuộc tranh luận này là sự khởi đầu của cuộc tranh luận BerleDodd trước đó trong thế kỷ XX về mục đích của 1 Berle, A. (1932), “The modern corporation and private property”, New York: Macmillan, pp. Bowen (1953), “Social Responsibilities of the Businessman”, University of Iowa Faculty 2 Connections, US, pp.
(1970), “The Social Responsibility of Business is to Increase its Profits”, The New York 3 TimesMagazine, September, 13, pp. Nhưng kể từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX ở nhiều nước phương Tây, các công ty đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi và phát triển triết lý về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Từ cuối những năm 60, 70 của thế kỷ XX, các công ty hàng đầu của Hoa Kỳ và Châu Âu đã bắt đầu nhận ra sự cần thiết phải hợp nhất các yếu tố khác nhau từ các chính sách của công ty liên quan đến mối quan hệ công ty với môi trường và các vấn đề khác với xã hội. Chính sách như vậy một mặt phải gắn liền với triết lý của công ty, chiến lược tiếp thị và phải đáp ứng được kỳ vọng của xã hội.
Nguyên nhân chính dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của CSR vào những năm 1970 ở các nước phát triển là do người tiêu dùng không mua hàng hóa và dịch vụ của các công ty thiếu trách nhiệm, cũng như sự lớn mạnh của tổ chức công đoàn. Đồng thời ở Tây Âu và Hoa Kỳ củng cố luật lao động và môi trường, có những sáng kiến về chính sách công nhằm phát triển CSR. Vào đầu thế kỷ XXI, hầu hết các công ty lớn ở Hoa Kỳ và Tây Âu đã hình thành chính sách CSR của riêng họ5. Sự hình thành khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp một cách đầy đủ và được sự ủng hộ nhất định xuất phát từ sự kết hợp của các học thuyết, trong đó tác động chính đến sự hình thành và phát triển của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ngày nay là ba học thuyết lớn: Stakeholder theory (Học thuyết các bên liên quan), Legitimacy Theory (Học thuyết pháp lý), Resource Dependence Theory (Học thuyết phụ thuộc nguồn tài nguyên)6.
Học thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory) Học thuyết các bên liên quan có thể được xem là sự phát triển và là tiền đề đầy đủ để hình thành nên khái niệm CSR. Thuật ngữ “bên liên quan” (stakeholder) lần đầu tiên xuất hiện trong tài liệu quản lý ở một bản ghi nhớ nội bộ tại Viện Nghiên 4 Berle, A. 5 Firuza Madrakhimova (2013), “History of Development of Corporate Social Responsibility”, Journal of Business and Economics, Vol. 6 Đặng Thu Hà (2017), Các nghiên cứu lý thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với môi trường và ảnh hưởng của nó tới hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế - Sản xuất và tiêu dùng bền vững, Bộ Công thương – NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, tr.
14 cứu Stanford (SRI) vào năm 19637, SRI đã định nghĩa “các bên liên quan” là những nhóm mà “tổ chức phụ thuộc vào đó để tiếp tục tồn tại, hạn chế sự tập trung vào các cổ đông mà nhu cầu của họ được coi là mục tiêu duy nhất của doanh nghiệp”. Năm 1984, Freeman kế thừa và phát triển khái niệm về các bên liên quan vào một cấu trúc nhất quán và định nghĩa lại các bên liên quan là “bất kỳ nhóm hoặc cá nhân nào có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi việc đạt được các mục tiêu của công ty”8. Dựa vào đó, có thể khái quát hai tiền đề cơ bản hình thành nên học thuyết các bên liên quan rằng: (i) để hoạt động tốt, các nhà quản lý cần chú ý đến nhiều bên liên quan (ví dụ như các nhà vận động hành lang môi trường, cộng đồng địa phương, đối thủ cạnh tranh), và (ii) các nhà quản lý có nghĩa vụ đối với các bên liên quan, bao gồm, nhưng mở rộng ngoài các cổ đông9. Như vậy, các công ty cần có sản phẩm và dịch vụ chất lượng mà khách hàng mong muốn, đồng thời phải có mối quan hệ tốt với nhà cung cấp để đảm bảo hoạt động tiên tiến nhất quán, nhân viên được truyền cảm hứng để cải thiện hiệu suất và sự hỗ trợ của cộng đồng để phát triển doanh nghiệp thành công.
Song quan điểm của Freeman cũng như các cộng sự của ông cũng vấp phải những phản đối nhất định. Nhà nghiên cứu Stieb hay các học giả khác chẳng hạn như Elms10 hay Key11 cũng đặt câu hỏi về độ tin cậy của học thuyết này và cho rằng học thuyết này thiếu một nền tảng học thuyết có thể được kiểm tra bởi vấn đề quan trọng nhất của doanh nghiệp vẫn là lợi nhuận và không nên quá tập trung vào các nội dung khác. Học thuyết này cũng xây dựng mô hình vận hành nhất định. Có thể tóm tắt như sau: Một bên được coi là “bên liên quan” nếu sở hữu một hoặc nhiều thuộc tính (i) quyền lực (power), tính hợp pháp (legitimacy), tính cấp thiết (urgency).
Nếu chỉ có một đặc điểm thì được gọi là bên liên quan tiềm ẩn (latent stakeholders). (1984), “Strategic management: A stakeholder approach”, Marshfield: Pitman Publishing, pp. (1984), “Strategic management: A stakeholder approach”, Marshfield: Pitman Publishing, pp. (2010), “Stakeholder theory: The state of the art”, Cambridge: Cambridge University Press, pp.
15 hai thuộc tính thì được gọi là bên liên quan trông đợi (expectant stakeholders). Trong số đó, những người có quyền lực và tính hợp pháp chiếm ưu thế, những người có tính hợp pháp và cấp thiết bị phụ thuộc, và những người có quyền lực và tính cấp thiết được gọi là những bên liên quan nguy hiểm. Nếu cả ba yếu tố đều rõ ràng trong mối quan hệ với các bên liên quan, thì đây chính là nội dung yêu cầu nhà quản lý phải ưu tiên đáp ứng vấn đề của bên liên quan đó12. Được xem là cơ sở để hình thành nên khái niệm CSR ngày nay, tuy nhiên, học thuyết các bên liên quan và CSR vẫn là hai phạm trù khác biệt, và chỉ có một số điểm tương đồng, một số nghiên cứu cho thấy, khái niệm này là tập hợp con của khái niệm kia13 hay CSR chính là sự bổ sung và hoàn thiện của học thuyết các bên liên quan14.
Tuy nhiên, cần có sự phân biệt rõ ràng để các chính sách của doanh nghiệp thực sự mang lại hiệu quả cao. Đối với học thuyết các bên liên quan đặt ra các trách nhiệm chính của doanh nghiệp về tổng thể, trong đó trách nhiệm đối với xã hội chỉ là một một phần trong số các trách nhiệm khác của doanh nghiệp, các doanh nghiệp tập trung xây dựng các mối quan hệ và tạo giá trị cho các bên liên quan. Khác với nội dung này, CSR đi sâu vào trách nhiệm về mặt xã hội của doanh nghiệp, chúng bắt nguồn, liên quan và định hướng đối với hoạt động kinh doanh, sự tồn tại của doanh nghiệp, bao gồm từ thiện, tình nguyện, nỗ lực vì môi trường và thực hành lao động có đạo đức. Học thuyết phụ thuộc nguồn tài nguyên (Resource Dependence Theory) Học thuyết phụ thuộc nguồn tài nguyên (RDT) đã trở thành một trong những học thuyết có ảnh hưởng nhất của học thuyết tổ chức và quản lý chiến lược trong việc tổ chức và phát triển doanh nghiệp.
RDT đặc trưng cho công ty là một hệ thống mở, phụ thuộc vào các yếu tố dự phòng từ môi trường bên ngoài. Như Pfeffer và Salancik 12 Mitchell, R. 16 đã phát biểu, “để hiểu hành vi của một tổ chức, bạn phải hiểu bối cảnh của hành vi đó - nghĩa là, hệ sinh thái của tổ chức”15. RDT thừa nhận ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài đối với hành vi của tổ chức và mặc dù bị hạn chế bởi bối cảnh của họ, các nhà quản lý có thể hành động để giảm sự không chắc chắn và phụ thuộc vào môi trường.
Trọng tâm của những hành động này là khái niệm quyền lực, là quyền kiểm soát các nguồn lực quan trọng16. Các tổ chức cố gắng giảm bớt quyền lực của người khác đối với họ, thường cố gắng tăng quyền lực của chính họ đối với người khác. Pfeffer ra lý luận cơ bản về quan điểm phụ thuộc tài nguyên và các mối quan hệ giữa các tổ chức là (i) các nội dung cơ bản về các mối quan hệ giữa công ty và xã hội; (ii) chính các công ty chịu sự ràng buộc bởi các yếu tố bên ngoài và môi trường xung quanh; (iii) sự phụ thuộc lẫn nhau; (iv) các tổ chức thực hiện các hành động để quản lý sự phụ thuộc lẫn nhau bên ngoài, mặc dù các hành động đó chắc chắn không bao giờ thành công hoàn toàn và tạo ra các mô hình phụ thuộc lẫn nhau mới; và (v) những kiểu phụ thuộc này tạo ra quyền lực trong tổ chức và có một số ảnh hưởng đến hành vi của tổ chức17. Cũng theo Pfeffer và Salancik, môi trường được tạo ra từ sự kiểm soát sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua luật pháp và trừng phạt xã hội.