Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của Công ty cổ phần Acecook. Chương 2: Phân tích việc thực hiện trách nhiệm xã hội của Công ty cô phần Acecook dựa trên nền tảng đạo đức kinh doanh toàn cầu tại thị trường Việt Nam. Chương 3: Đề xuất giải pháp và kiến nghị. PHẢN NỘI DUNG CHUONG 1: CO SO LY THUYET LIEN QUAN DEN ĐẠO ĐỨC KINH DOANH VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CONG TY CO PHAN ACECOOK 1.
Các khái niệm có liền quan 1. Khái niệm đạo đức Từ “Đạo đức” có nguồn gốc từ Latinh Moralital (luân lý) - bản thân mình cư xử và gốc từ Hy Lạp Ethigos (đạo lý) - người khác muốn ta hành xử và ngược lại ta muốn họ. Ở Trung Quốc, “đạo” có nghĩa là đường đi, đường sống của con người, “đức” có nghĩa là đức tính, nhân đức, các nguyên tắc luân lý. Đạo đức là tập hợp các nguyên tắc, quy tắc, chuân mực xã hội nhằm điều chỉnh, đánh giá hành vi của con người đối với bản thân và trong quan hệ với người khác, với xã hội.
Chức năng cơ bản của đạo đức là đạo đức điều chỉnh hành vi của con người theo các chuân mực và quy tắc đạo đức đã được xã hội thừa nhận bằng sức mạnh của sự thôi thúc lương tâm cá nhân, của dư luận xã hội, của tập quán truyền thống và của giáo dục. Đạo đức quy định thải độ, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người đối với bản thân cũng như đối với người khác và xã hội. Vì thế đạo đức là khuôn mẫu, tiêu chuân đề xây dựng lối sống, lý tưởng mỗi người. Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức gồm: độ lượng, khoan dung, chính trực, khiêm tốn, dũng cảm, trung thực, tín, thiện, tàn bạo, tham lam, kiéu ngao, hèn nhát, phản bội, bắt tín, ác.
Khái niệm đạo đức kính doanh Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuân mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiếm soát hành vi của các chủ thế kinh doanh. Đạo đức kinh doanh chính là đạo đức được vận dụng vào trong hoạt động kinh doanh. Đạo đức kinh doanh là một dạng đạo đức nghề nghiệp. Các bên liên quan (như nhà đầu tư, khách hàng, người quản lý, người lao động, đại điện cơ quan 4 pháp lý, đối tác, đối thủ.) sử dụng đề phán xét 1 hành động cụ thể là đúng hay sal, hop đạo đức hay phi đạo đức.
Các nguyên tắc và chuẩn mực của đạo đức kinh doanh - Tính trung thực: Không dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời. Giữ lời hứa, giữ chữ tín trong kinh doanh. Nhất quán trong nói và làm. Trung thực trong chấp hành luật pháp của Nhà nước, không làm ăn phi pháp như trốn thuế, lậu thuế, không sản xuất và buôn bán những mặt hàng quốc cấm, thực hiện những dịch vụ có hại cho thuần phong mỹ tục.
Trung thực trong giao tiếp với bạn hàng (giao dịch, đàm phán, ký kết) và người tiêu dùng: không làm hàng giả, khuyến mại giả, quảng cáo sai sự thật, sử dụng trái phép những nhãn hiệu nỗi tiếng, vi phạm bản quyền, phá giá theo lối ăn cướp. Trung thực ngay với bản thân, không hồi lộ, tham ô, "chiếm công vị tư”. - Tôn trọng con người: Đối với những người cộng sự và đưới quyền, tôn trọng phẩm giá, quyền lợi chính đáng, tôn trọng hạnh phúc, tôn trọng tiềm năng phát triển của nhân viên, quan tâm đúng mức, tôn trọng quyền tự do và các quyền hạn hợp pháp khác. Đối với khách hàng: Tôn trọng nhu cầu, sở thích và tâm lý khách hàng.
Đối với đối thủ cạnh tranh, tôn trọng lợi ích của đối thủ. - Gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của khách hàng va xã hội, coI trọng hiệu quả gắn với trách nhiệm xã hội. - Bí mật và trung thành với các trách nhiệm đặc biệt. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1.
Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp xuất hiện chính thức lần đầu tiên năm 1953 trong cuốn sách Trách nhiệm xã hội của doanh nhân (Social Responsibilities of the Businessmen) cua tac gia Howard Rothmann Bowen nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyên và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tôn hại cho xã hội. Từ đó đến nay, thuật ngữ này đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Một số học giả cho rằng “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp liên quan đến những quyết định và hành động được thực hiện mà ít nhất cũng vượt trên 5 những lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, là những nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ piữa doanh nghiệp và xã hột”. Maipnan và Ferrell (2004) cùng đưa ra một khái niệm súc tích về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: “Một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội khi quyết định và hoạt động của nó nhằm tạo ra và cân bằng các lợi ích khác nhau của những cá nhân và tổ chức liên quan”.
Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thê được phân loại như sau: - Các khái niệm thiên về hướng đạo đức: Khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiép cua McGuire (1963), “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là nói tới một doanh nghiệp không chỉ có nghĩa vụ về mặt kinh tế và chấp hành luật pháp mà còn phải có những trách nhiệm nhất định khác đối với xã hội. Những trách nhiệm này phải được mở rộng và vượt lên trên những nghĩa vụ và bổn phận khác”. Theo Davis (1973), “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự đáp ứng và kết hợp tất cả các nhu cầu vượt lên trên các yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật và luật pháp, dé dat được mục tiêu xã hội cũng tốt như các mục tiêu kinh tế”. Còn Carroll (1999) sau khi chỉ ra vai trò chủ yếu của mọi doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận bằng cach ban san pham và dịch vụ cho xã hội đã khẳng định “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp.
đạo đức và lòng từ thiện đối với các tô chức tại một thời điểm nhất định”. - Các khái niệm về trách nhiệm hướng tới các bên liên quan: Freeman (1983) gọi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chính là cam kết của các cổ đông. Naylor (1999) quan niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp như là nghĩa vụ của các nhà quản lý lựa chọn và hành động theo cách có lợi cho cả tô chức nói riêng và xã hội nói chung. Nói cách khác, mục tiêu rộng hơn của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là nhằm tạo ra một mức sống ngày càng cao, trong khi vẫn duy trì khả năng sinh lời của doanh nghiệp cho các bên hữu quan của mình.
Trên thực tế, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một phạm trù rộng, có thể được hiểu và điễn đạt theo nhiều cách khác nhau. Từ năm 2003, khái niệm 6 trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp do Nhóm Phát triên Kinh tế Tư nhân của Ngân hàng Thế giới đưa ra đã được chấp nhận và sử dụng rộng rãi nhất. Theo đó, '““Irách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”. Các khía cạnh của trách nhiệm xã hội Theo Carroll (1979), trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh té, pháp luật, đạo đức và từ thiện đối với các tô chức tại một thời điểm nhất định.
Tiếp tục theo đuổi nghiên cứu về trách nhiệm xã hội, năm 1991, ông đã đưa ra bốn loại trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tạo thành khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hoàn chỉnh: đó là các khía cạnh về kinh tế, pháp luật, đạo đức và từ thiện và được mô tả như một kim tự tháp. Kim tự tháp Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp của Carroll (1991) (Nguôn: Tác giả sưu tâm) Khía cạnh kinh tế Khía cạnh kinh tế trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là phải sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà xã hội cần và muốn với một mức gia có thé duy trì doanh nghiệp ấy và làm thỏa mãn nghĩa vụ của doanh nghiệp với các nhà đầu tư; là tìm kiếm nguồn cung ứng lao động, phát hiện những nguồn tải nguyên mới, thúc đấy tiễn bộ công nghệ, phát triển sản phẩm; là phân phối các nguồn sản xuất như hàng hoá và dịch vụ như thế nảo trong hệ thống xã hội. Trong khi thực hiện các công việc này, các doanh nghiệp thực sự góp phần vào tăng thêm phúc lợi cho xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đối với người lao động, khía cạnh kinh tế của doanh nghiệp là tạo công ăn việc làm với mức thủ lao xứng đáng cơ hội việc làm như nhau, cơ hội phát triển nehề và chuyên môn, hưởng thù lao tương xứng, hưởng môi trường lao động an toàn, vệ sinh và đảm bảo quyền riêng tư, cá nhân ở nơi làm việc.
Đối với người tiêu dùng, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp là cung cấp hàng hoá và dịch vụ, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp còn liên quan đến vấn đề về chất lượng, an toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản phâm (quảng cáo), phân phối, bán hàng và cạnh tranh. Đối với chủ sở hữu doanh nghiệp, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp lả bảo tổn và phát triển các giá trị và tài sản được uý thác. Những giá trị và tai sản nảy có thê là của xã hội hoặc cá nhân được họ tự nguyện giao pho cho tô chức, doanh nghiệp — mà đại diện là người quản lý, điều hành — với những điều kiện ràng buộc chính thức. Đối với các bên liên đới khác, nghĩa vụ kinh tế của doanh nghiệp là mang lại lợi ích tối đa và công bằng cho họ.
Nghĩa vụ này được thực hiện bằng việc cung cấp trực tiếp những lợi ích này cho họ qua hàng hoá, việc làm, giá cả, chất lượng, lợi nhuận đầu tư. Khia canh phap ly Khia canh phap ly trong trach nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ những quy định về pháp lý chính thức đối với các bên hữu quan.