Tổng quan luận án

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility - CSR) khởi nguồn từ các quốc gia phát triển, sau đó lan tỏa mạnh mẽ sang các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi, trong đó có Việt Nam. Tại Việt Nam, cách tiếp cận truyền thống thường nhìn nhận CSR chủ yếu từ góc độ quản lý nhà nước, coi đây là nghĩa vụ pháp lý mang tính tuân thủ thụ động đối với các quy định sở tại. Tuy nhiên, các lý thuyết quản trị hiện đại chỉ ra rằng việc thực hiện CSR một cách chủ động mang lại nhiều lợi ích chiến lược như nâng cao năng suất của người lao động, gia tăng lòng trung thành, cải thiện hiệu quả vận hành và củng cố danh tiếng của doanh nghiệp. Trong các mục tiêu chiến lược, danh tiếng đóng vai trò then chốt như một tài sản vô hình và cầu nối giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu tài chính, thị trường và mở rộng quan hệ với các bên liên quan.

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng góp nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam thông qua việc bổ sung vốn đầu tư xã hội, cải thiện thặng dư cán cân vốn, tiếp cận và chuyển giao công nghệ, cũng như nâng cao kỹ năng sản xuất, quản lý của người lao động (Cao Thị Hồng Vinh, 2016). Dù vậy, hoạt động của khối FDI cũng bộc lộ nhiều bất cập liên quan đến ô nhiễm môi trường, vi phạm đạo đức kinh doanh và thiếu trách nhiệm an sinh xã hội. Trong bối cảnh Việt Nam thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA với các cam kết khắt khe về lao động và môi trường, việc thực hiện CSR của doanh nghiệp FDI trở thành yêu cầu cấp thiết. Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu CSR hiện nay phần lớn tập trung ở các nước phát triển; việc áp dụng nguyên mẫu vào bối cảnh các quốc gia đang phát triển còn gặp nhiều rào cản do khác biệt về thể chế, văn hóa và cơ chế quản trị. Do đó, luận án "Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, những vấn đề đặt ra và giải pháp" được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu này.

Mục tiêu chung của luận án là nghiên cứu việc thực hiện CSR của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, chỉ ra những vấn đề đặt ra và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện, thúc đẩy hoạt động CSR của khối doanh nghiệp này đến năm 2030. Cụ thể hóa mục tiêu chung, luận án thực hiện bốn mục tiêu cụ thể:

  1. Làm rõ cơ sở lý thuyết về CSR của doanh nghiệp và nội dung CSR của doanh nghiệp FDI.
  2. Đánh giá đúng thực trạng và kết quả thực hiện CSR của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2020, từ đó chỉ ra những vấn đề còn tồn đọng.
  3. Xây dựng mô hình phân tích việc thực hiện CSR của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam tập trung vào mối liên quan giữa việc thực hiện CSR với việc nâng cao danh tiếng của doanh nghiệp.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp phù hợp, có tính khả thi và ứng dụng cao nhằm nâng cao việc thực hiện CSR của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam trong thời gian tới.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm năm câu hỏi:

  1. CSR là gì? Hướng tiếp cận CSR của Luận án là gì?
  2. Doanh nghiệp FDI tại Việt Nam thực hiện CSR ở những nội dung nào?
  3. Các bên liên quan chính, quan trọng nhất, đặc thù của doanh nghiệp FDI là những đối tượng nào?
  4. Thực trạng thực hiện CSR của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2020 như thế nào? Những vấn đề còn tồn tại là gì? Nguyên nhân của những vấn đề đó là gì?
  5. Giải pháp nào có thể được thực hiện nhằm nâng cao việc thực hiện CSR của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam?

Để trả lời các câu hỏi trên, luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu: (i) Hệ thống hóa và bổ sung lý luận về CSR của doanh nghiệp FDI; (ii) Phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện CSR của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam; (iii) Phân tích kết quả thực hiện CSR bằng dữ liệu điều tra, lượng hóa tác động của việc thực hiện CSR đối với các bên liên quan đến danh tiếng doanh nghiệp; (iv) Đề xuất các giải pháp nâng cao việc thực hiện CSR của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện CSR của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát và đánh giá trên lãnh thổ Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Phân tích thực trạng qua dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2010 – 2020. Dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn 2016 – 2020 (thời điểm điều tra khảo sát tập trung vào tháng 4/2018).
  • Phạm vi nội dung: Tiếp cận CSR tích hợp từ hai phía: Nhà nước (yêu cầu pháp lý) và doanh nghiệp (công cụ quản trị chiến lược tạo dựng danh tiếng); tập trung phân tích 4 nhóm bên liên quan cốt lõi gồm Chính phủ, người lao động, khách hàng và cộng đồng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu quốc tế về CSR cho thấy sự dịch chuyển rõ nét qua các thời kỳ về nội dung, mô hình và mức độ tường minh của khái niệm (Lee, 2008):

  • Thập niên 1950 – 1960: Bowen (1953) đặt nền móng với cách tiếp cận xem CSR là nghĩa vụ của doanh nhân trong việc theo đuổi các chính sách phù hợp với mục tiêu và giá trị xã hội.
  • Thập niên 1970: Xuất hiện hai quan điểm trái chiều tiêu biểu; Milton Friedman (1970) cho rằng trách nhiệm duy nhất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông, trong khi Wallich và McGowan (1970) lập luận rằng doanh nghiệp cần gắn bó với xã hội để bảo đảm lợi ích dài hạn.
  • Thập niên 1980: Carroll (1979), Wartick và Cochran (1985), Wood (1991) phát triển các mô hình thực hiện trách nhiệm xã hội, nổi bật là mô hình kim tự tháp tích hợp giữa mục tiêu kinh tế và nghĩa vụ xã hội.
  • Thập niên 1990: Freeman (1984), Clarkson (1995), Jones (1995), Hart (1997) hoàn thiện lý thuyết các bên liên quan, gắn chặt sự tồn tại của doanh nghiệp với mạng lưới các đối tượng hữu quan.
  • Thập niên 2000 đến nay: Husted và Allen (2000), Orlitzky và cộng sự (2003) tiếp cận CSR dưới góc độ quản trị chiến lược và tạo dựng lợi thế cạnh tranh.

Các công trình nghiên cứu quốc tế theo từng bên liên quan đã chứng minh: Skare và Golja (2014) khảo sát 25 quốc gia (2000 – 2008) chỉ ra CSR đóng góp thuận chiều vào tăng trưởng kinh tế; Turban và Greening (1997), Tsoutsoura (2004), Banker và Mashruwala (2007), Lee và cộng sự (2012) chứng minh CSR giúp thu hút, giữ chân nhân tài và nâng cao năng suất lao động; Sen và Bhattacharya (2011), Luo và Bhattacharya (2006), Fatma và Rahman (2016) khẳng định CSR gia tăng sự thỏa mãn và trung thành của khách hàng; Okeudo (2012) chỉ ra CSR tạo lợi ích phát triển hạ tầng và cải thiện môi trường đầu tư địa phương. Về mối quan hệ giữa CSR và danh tiếng doanh nghiệp, Golob và cộng sự (2015) chỉ ra rằng có tới 71,4% công trình tập trung vào góc độ khách hàng, trong khi chỉ 28,6% nghiên cứu tác động của CSR đến danh tiếng tổng thể của tổ chức.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu lý luận ban đầu của Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức (2009), Phạm Văn Đức (2010), Hoàng Thu Thủy (2016), Nguyễn Thị Kim Chi (2016) tập trung làm rõ nội hàm khái niệm và định hướng chính sách. Các nghiên cứu thực nghiệm trong nước được tổng hợp cụ thể như sau:

Tác giả (Năm) Tên công trình / Chủ đề nghiên cứu Nội dung chính Phương pháp nghiên cứu
Châu Thị Lệ Duyên & Nguyễn Minh Cảnh (2013) Phân tích những nhân tố thúc đẩy việc thực hiện CSR của DNNVV ở TP. Cần Thơ Các nhân tố: lợi ích kinh tế, chính sách kinh tế vĩ mô, trách nhiệm đạo đức, định hướng cộng đồng Khảo sát 88 DNNVV tại Cần Thơ, chạy mô hình EFA
Dung Phương Hoàng (2017) Role of CSR in Managing Relationship Quality and Loyalty Nhận thức về CSR của khách hàng tác động tích cực đến sự trung thành, tin tưởng và thỏa mãn Định lượng, khảo sát người tiêu dùng trẻ
Hoàng Thị Thanh Hương (2015) Áp dụng chiến lược CSR tại doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam CSR của DNNVV ngành may ở mức ứng phó, thụ động dưới áp lực bên liên quan Khảo sát 185 doanh nghiệp ngành may, phương pháp định lượng
Lê Thị Hướng (2017) CSR của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Trách nhiệm nộp thuế, trách nhiệm với người lao động, trách nhiệm với môi trường Khảo sát, kết hợp định tính và định lượng
Mai Lan Phương và cs. (2016) Nghiên cứu giải pháp tăng cường thực hiện nghĩa vụ thuế và CSR của DNNVV tỉnh Đắk Lắk Thực trạng đóng góp ngân sách, chính sách đãi ngộ lao động, hoạt động bảo vệ môi trường Phương pháp định tính
Nguyễn Đình Long & Đoàn Quang Thiệu (2009) CSR của các DNNVV trong khu vực nông nghiệp, nông thôn Thực trạng thực hiện CSR đối với người lao động và môi trường Khảo sát 120 DNNVV và 200 cán bộ lãnh đạo, định tính
Nguyễn Thị Kim Ánh & Nguyễn Thị Minh Hoà (2018) Cảm nhận CSR đến niềm tin thương hiệu vận tải Thuận Thảo Cảm nhận CSR ở khía cạnh kinh tế, pháp lý, đạo đức, nhân văn tác động đến niềm tin thương hiệu Định lượng, khảo sát khách hàng
Nguyễn Thị Minh Châu (2013) CSR của các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể đối với người lao động tại TP.HCM Thực trạng thực hiện CSR đối với người lao động tại các cơ sở cá thể Khảo sát 31 cơ sở sản xuất kinh doanh và người lao động, định tính
Nguyễn Thu Linh và cs. (2008) Trách nhiệm xã hội và môi trường của DNNVV Việt Nam Phân tích thực trạng CSR ở các khía cạnh môi trường, người tiêu dùng, người lao động, cộng đồng Phương pháp định tính
Trần Đình Phụng và cs. (2019) Mối quan hệ giữa CSR với kết quả tài chính tại các doanh nghiệp FDI tại TP.HCM Thực hiện tốt CSR giúp gia tăng kết quả tài chính của doanh nghiệp FDI Phương pháp định lượng
Trần Thị Minh Hòa & Nguyễn Thị Hồng Ngọc (2014) CSR trong kinh doanh khách sạn tại Việt Nam (Sofitel Metropole & Sofitel Plaza) Trách nhiệm đối với người lao động, cộng đồng, môi trường; nâng cao hình ảnh và danh tiếng Nghiên cứu trường hợp (case study), định tính
Nguyễn Thị Phương Thảo và cs. (2019) Tác động của CSR lên danh tiếng, niềm tin, lòng trung thành khách hàng ngành ngân hàng CSR giúp tạo dựng danh tiếng; danh tiếng là trung gian tạo dựng niềm tin và lòng trung thành Khảo sát 350 khách hàng tại Đà Lạt, mô hình SEM, phần mềm SPSS 20
Trần Thị Nhinh (2020) Ảnh hưởng của CSR đến sự gắn kết nhân viên dưới vai trò điều tiết của danh tiếng tổ chức CSR gia tăng niềm tin và sự hài lòng, qua đó nâng cao sự gắn kết của người lao động Khảo sát 480 người lao động, phương pháp định lượng
Hoàng Hải Yến (2016) CSR của ngân hàng thương mại Việt Nam CSR tác động tích cực lên danh tiếng thương hiệu, nâng cao kết quả kinh doanh Phương pháp định tính
Trần Nguyễn Hợp Châu và cs. (2018) CSR của doanh nghiệp FDI trong chiến lược kinh doanh – thực tiễn tại Việt Nam CSR tác động thuận chiều đến danh tiếng, sự đổi mới và sự khác biệt hóa của doanh nghiệp Phương pháp định lượng (mô hình hồi quy đơn biến, 21 biến quan sát)

Từ tổng quan tình hình nghiên cứu, luận án xác định các khoảng trống học thuật cần giải quyết:

  • Về đối tượng nghiên cứu: Các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào nhóm DNNVV nội địa hoặc ngành dịch vụ đơn lẻ. Nhóm doanh nghiệp FDI chưa được phân tích toàn diện dù chịu áp lực lớn từ các chuẩn mực quốc tế. Công trình của Trần Nguyễn Hợp Châu và cộng sự (2018) là nghiên cứu hiếm hoi về doanh nghiệp FDI nhưng chỉ sử dụng mô hình hồi quy đơn biến với 21 biến quan sát, chưa phân tách các nhân tố thành phần.
  • Về nội dung và phạm vi bên liên quan: Các nghiên cứu trước thường chỉ xét 1 hoặc 2 nhóm đối tượng riêng rẽ (người lao động hoặc khách hàng). Luận án khảo sát đồng thời 4 bên liên quan trọng yếu: Chính phủ, người lao động, khách hàng và cộng đồng, bao quát 4 khía cạnh theo mô hình Carroll (1991).
  • Về góc độ tiếp cận: Kết hợp đồng thời góc nhìn pháp lý từ Nhà nước (nghĩa vụ tuân thủ) và góc nhìn quản trị chiến lược từ doanh nghiệp (xây dựng danh tiếng).
  • Về phương pháp: Khắc phục hạn chế của các nghiên cứu định tính đơn thuần bằng việc kết hợp phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) và mô hình hồi quy đa tuyến tính.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp của ba lý thuyết nền tảng:

  1. Mô hình kim tự tháp CSR của Carroll (1979, 1991): Phân chia CSR thành bốn tầng bậc trách nhiệm:
    • Trách nhiệm kinh tế: Tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao hiệu quả kinh doanh, là nền tảng cốt lõi cho mọi hoạt động.
    • Trách nhiệm pháp lý: Tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật được nhà nước mã hóa.
    • Trách nhiệm đạo đức: Thực hiện các quy tắc, chuẩn mực xã hội kỳ vọng ngoài phạm vi bắt buộc của luật pháp.
    • Trách nhiệm từ thiện: Các hoạt động tự nguyện đóng góp cho cộng đồng vượt trên sự kỳ vọng của xã hội.
  2. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) của Freeman (1984), Clarkson (1995), Mele (2008): Xác định doanh nghiệp tồn tại trong một mạng lưới các mối quan hệ hữu quan. Đối với doanh nghiệp FDI, bốn bên liên quan cốt lõi gồm: Chính phủ (bên liên quan quản lý), người lao động (bên liên quan nội bộ), khách hàng và cộng đồng (bên liên quan bên ngoài). Tác giả luận giải rằng môi trường tự nhiên không tự thân gây sức ép mà tác động thông qua cộng đồng địa phương, do đó bảo vệ môi trường được xếp vào nội dung trách nhiệm đối với cộng đồng.
  3. Lý thuyết giá trị và tạo lập giá trị chung (CSV) của Porter và Kramer (2002, 2006), mô hình tạo dựng giá trị của Gholami (2011), Helm và cộng sự (2009), Alsop (2004): Nhìn nhận CSR như một nguồn lực nội tại tạo lợi thế cạnh tranh và tài sản vô hình khó sao chép là danh tiếng doanh nghiệp.
Lý thuyết nền tảng Nội dung ứng dụng trong luận án Tác giả tiêu biểu
Lý thuyết kim tự tháp CSR Xác định 4 khía cạnh trách nhiệm: kinh tế, pháp lý, đạo đức, từ thiện Carroll (1979, 1991)
Lý thuyết các bên liên quan Xác lập 4 đối tượng hữu quan trọng yếu của DN FDI: Chính phủ, NLĐ, khách hàng, cộng đồng Freeman (1984), Clarkson (1995), Spence (1974), Toms (2002), Tai (2014)
Lý thuyết giá trị (CSV / Tài nguyên) Nhìn nhận CSR là nguồn lực chiến lược tạo dựng lợi thế cạnh tranh và danh tiếng doanh nghiệp Porter & Kramer (2006), Gholami (2011), Helm et al. (2009), Alsop (2004)

Về khái niệm doanh nghiệp FDI, luận án tổng hợp định nghĩa của IMF, OECD và các quy định pháp lý tại Khoản 17 Điều 3 Luật Đầu tư 2014, Khoản 22 Điều 3 Luật Đầu tư 2020 của Việt Nam, phân loại thành hai nhóm chính: Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và Doanh nghiệp liên doanh.

Nội dung CSR gắn với 4 bên liên quan của doanh nghiệp FDI được cấu trúc dựa trên khung hướng dẫn của Ủy ban Châu Âu (EC, 2002, 2003):

  • Đối với Chính phủ: Thực hiện trách nhiệm nộp thuế đầy đủ, đúng hạn vào ngân sách nhà nước; tuân thủ nghiêm túc pháp luật sở tại về đầu tư, xây dựng, đất đai, lao động, môi trường.
  • Đối với người lao động: Trả lương và thu nhập xứng đáng, đóng bảo hiểm xã hội, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động, đào tạo nâng cao tay nghề, tạo dựng môi trường làm việc dân chủ, bình đẳng.
  • Đối với khách hàng: Cung ứng sản phẩm, dịch vụ bảo đảm chất lượng, an toàn, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, minh bạch thông tin và chăm sóc khách hàng.
  • Đối với cộng đồng: Giảm thiểu xả thải, bảo vệ môi trường sinh thái địa phương, tài trợ thiện nguyện và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội nơi hoạt động.

Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu của luận án:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Nghiên cứu tài liệu tại bàn từ sách, tạp chí khoa học, kỷ yếu hội thảo, báo cáo tổng hợp giai đoạn 2010 – 2020 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM).
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Khảo sát bằng bảng câu hỏi cấu trúc đối với lãnh đạo doanh nghiệp (chủ doanh nghiệp, giám đốc, trưởng bộ phận chiến lược) của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam trong tháng 4/2018. Mẫu điều tra phát ra 500 phiếu, thu về 233 phiếu (đạt tỷ lệ phản hồi 46,6%). Sau quá trình làm sạch, có 208 phiếu hợp lệ được đưa vào phân tích định lượng. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu thuận tiện (phi xác suất).
  • Kỹ thuật và công cụ phân tích dữ liệu:
    • Phương pháp định tính: Sử dụng các kỹ thuật tổng hợp, so sánh, phân tích tài liệu và thống kê mô tả.
    • Phương pháp định lượng: Sử dụng phần mềm DEAP 2.1 thực hiện phân tích bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) để đánh giá hiệu quả thực hiện CSR của doanh nghiệp FDI. Sử dụng phần mềm SPSS 22 để kiểm định độ tin cậy thang đo (hệ số Cronbach's Alpha), phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) và hồi quy tuyến tính đa biến nhằm kiểm định tác động của việc thực hiện CSR với 4 bên liên quan (biến độc lập) đến danh tiếng doanh nghiệp FDI (biến phụ thuộc duy nhất).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về CSR, CSR theo các bên liên quan và mối liên hệ giữa CSR với danh tiếng doanh nghiệp. Tác giả khái quát xu hướng dịch chuyển nghiên cứu học thuật qua sơ đồ tiến trình:

  • Về phạm vi: Chuyển dịch từ cấp độ vĩ mô (tác động đến tăng trưởng kinh tế - xã hội) sang cấp độ vi mô (mối liên hệ với các mục tiêu nội bộ doanh nghiệp).
  • Về cách tiếp cận: Dịch chuyển từ nhìn nhận CSR như một yếu tố thuộc môi trường bên ngoài sang việc coi CSR là nguồn lực nội tại; từ thực thi mang tính nghĩa vụ bắt buộc sang chủ động theo đuổi chiến lược.
  • Về đối tượng: Mở rộng từ các doanh nghiệp sản xuất truyền thống sang các doanh nghiệp dịch vụ.
  • Về phương pháp: Chuyển từ nghiên cứu định tính, mô tả thuần túy sang kiểm định thực nghiệm định lượng sử dụng mô hình kinh tế lượng.

Từ việc phân tích thực trạng nghiên cứu tại Việt Nam, chương 1 khẳng định khoảng trống lớn về nghiên cứu thực nghiệm CSR trên khối doanh nghiệp FDI, đồng thời thiết lập khung phân tích tổng thể làm kim chỉ nam cho các chương tiếp theo.

Chương 2. Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI

Chương 2 tập trung xây dựng nền tảng lý luận chuyên sâu cho đề tài:

  • Luận giải các động lực thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện CSR, bao gồm: Động lực pháp lý (thể hiện tính hợp pháp, phòng ngừa can thiệp nhà nước), Áp lực từ các bên liên quan (kỳ vọng của xã hội, khách hàng, tổ chức phi chính phủ), và Động lực kinh tế (tạo sự khác biệt, tiết kiệm chi phí vận hành thông qua quy trình ít xả thải).
  • Tích hợp ba lý thuyết cốt lõi: Mô hình kim tự tháp Carroll (1991), Lý thuyết các bên liên quan Freeman (1984), và Lý thuyết tạo lập giá trị chung CSV (Porter & Kramer, 2006; Gholami, 2011).
  • Làm rõ bản chất pháp lý và kinh tế của doanh nghiệp FDI theo luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam (Luật Đầu tư 2014, Luật Đầu tư 2020).
  • Xây dựng mô hình đo lường nội dung CSR của doanh nghiệp FDI gắn liền với 4 nhóm bên liên quan trọng tâm: Chính phủ (nghĩa vụ thuế và tuân thủ pháp luật), Người lao động (tiền lương, bảo hiểm, an toàn lao động, đào tạo), Khách hàng (chất lượng sản phẩm, an toàn, bảo vệ người tiêu dùng) và Cộng đồng (bảo vệ môi trường, từ thiện, phát triển cộng đồng địa phương).
  • Phân tích cơ chế tác động qua lại: Thực hiện CSR giúp tạo lập giá trị cho xã hội, đồng thời tạo dựng tài sản danh tiếng vô hình cho doanh nghiệp, từ đó đem lại lợi ích tài chính và vị thế bền vững trong dài hạn.

Chương 3. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam và những vấn đề đặt ra

Chương 3 kết hợp phân tích dữ liệu thứ cấp (giai đoạn 2010 – 2020) và xử lý dữ liệu sơ cấp từ 208 phiếu khảo sát doanh nghiệp FDI (năm 2018):

  • Đánh giá thực trạng thực hiện CSR theo cả hai hướng tiếp cận: Đánh giá từ cơ quan quản lý nhà nước và tự đánh giá của doanh nghiệp FDI.
  • Kết quả phân tích định lượng:
    • Sử dụng phần mềm DEAP 2.1 chạy mô hình DEA phân tích hiệu quả phân bổ nguồn lực CSR của các doanh nghiệp FDI đối với từng nhóm đối tượng hữu quan.
    • Sử dụng phần mềm SPSS 22 kiểm tra hệ số tin cậy Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA nhằm tinh gọn thang đo các khía cạnh CSR và danh tiếng.
    • Chạy mô hình hồi quy đa tuyến tính lượng hóa mức độ tác động của 4 biến độc lập (CSR với Chính phủ, CSR với NLĐ, CSR với Khách hàng, CSR với Cộng đồng) đến biến phụ thuộc là Danh tiếng doanh nghiệp FDI.
  • Nhận diện những tồn tại và hạn chế nổi cộm của khối doanh nghiệp FDI giai đoạn 2010 – 2020:
    • Tình trạng vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, xả thải chưa qua xử lý gây ô nhiễm nghiêm trọng.
    • Các hành vi chuyển giá, kê khai lỗ liên tục nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước.
    • Vi phạm quyền lợi của người lao động, chậm đóng hoặc trốn đóng bảo hiểm xã hội, điều kiện an toàn lao động chưa bảo đảm dẫn đến tranh chấp lao động, đình công.
  • Chỉ ra các nguyên nhân căn bản: Hệ thống khung pháp lý và chế tài xử phạt của Việt Nam còn chồng chéo, thiếu tính răn đe; cơ chế thanh tra, giám sát liên ngành còn nhiều kẽ hở; một bộ phận doanh nghiệp FDI vẫn duy trì tư duy quản trị ngắn hạn, chỉ coi CSR là chi phí phát sinh hoặc biện pháp đối phó mang tính hình thức.

Chương 4. Giải pháp nâng cao việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam

Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng và bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế với các cam kết CPTPP, EVFTA đến năm 2030, chương 4 đề xuất hai nhóm giải pháp đồng bộ:

  • Nhóm giải pháp đối với cơ quan quản lý nhà nước:
    • Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đồng bộ về đầu tư, lao động, thuế và bảo vệ môi trường đối với khu vực FDI.
    • Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm xả thải ô nhiễm, chuyển giá, trốn thuế.
    • Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá CSR chuẩn hóa tại Việt Nam; áp dụng các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, thủ tục hành chính để khuyến khích và tôn vinh các doanh nghiệp FDI thực hiện tốt CSR.
  • Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp FDI:
    • Chuyển đổi căn bản tư duy quản trị: Chuyển từ tuân thủ bị động sang xây dựng chiến lược CSR chủ động, coi CSR là một phần của chiến lược kinh doanh tổng thể.
    • Tích hợp CSR vào quản trị rủi ro và chiến lược tạo dựng danh tiếng thương hiệu bền vững.
    • Cân đối nguồn lực để thực hiện đầy đủ trách nhiệm với cả 4 bên liên quan: Minh bạch nghĩa vụ thuế với Chính phủ; cải thiện môi trường làm việc, phúc lợi và đào tạo cho người lao động; bảo đảm chất lượng và an toàn cho khách hàng; đầu tư công nghệ sạch và tham gia tích cực vào các hoạt động phát triển cộng đồng sở tại.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  1. Về mặt lý luận:
    • Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý thuyết về CSR, nội hàm CSR của doanh nghiệp FDI trong bối cảnh các nền kinh tế đang phát triển.
    • Xây dựng mô hình tích hợp kết hợp mô hình kim tự tháp Carroll (1991), lý thuyết các bên liên quan Freeman (1984) và lý thuyết tạo lập giá trị CSV của Porter và Kramer (2006), Gholami (2011).
    • Thiết lập khung đo lường gồm 4 nhóm bên liên quan trọng yếu (Chính phủ, người lao động, khách hàng, cộng đồng) gắn liền với mục tiêu nâng cao danh tiếng doanh nghiệp FDI.
  2. Về mặt thực tiễn và phương pháp:
    • Đi sâu phân tích thực trạng thực hiện CSR của khối doanh nghiệp FDI tại Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2020 dưới cả hai góc nhìn bổ trợ: Quản lý nhà nước và tự đánh giá của doanh nghiệp.
    • Thu thập và xử lý bộ dữ liệu sơ cấp gồm 208 phiếu khảo sát hợp lệ từ các nhà quản lý doanh nghiệp FDI (thực hiện tháng 4/2018); ứng dụng phương pháp DEA (phần mềm DEAP 2.1) cùng các kỹ thuật Cronbach's Alpha, EFA và hồi quy đa tuyến tính (phần mềm SPSS 22) để lượng hóa tác động của các khía cạnh CSR đến danh tiếng doanh nghiệp.
    • Nhận diện các vấn đề tồn tại, sai phạm điển hình và chỉ rõ nguyên nhân sâu xa của những hạn chế trong thực thi CSR của doanh nghiệp FDI.
  3. Về giải pháp và kiến nghị:
    • Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện, có tính ứng dụng cao cho cả cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp FDI, hướng tới lộ trình phát triển bền vững đến năm 2030 trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Do hạn chế về thời gian và kinh phí nghiên cứu, dữ liệu sơ cấp được thu thập theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện (phi xác suất) với quy mô 208 quan sát hợp lệ.
  • Dữ liệu khảo sát sơ cấp phản ánh thông tin tại một thời điểm (tháng 4/2018), chưa theo dõi được chuỗi dữ liệu bảng theo thời gian dài của từng doanh nghiệp FDI.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên xác suất, phân tầng theo ngành kinh tế (sản xuất công nghiệp, công nghệ cao, dịch vụ) và theo quốc gia/vùng lãnh thổ đầu tư của dòng vốn FDI.
  • Thu thập và cập nhật dữ liệu thứ cấp và sơ cấp trong giai đoạn sau năm 2020 để đánh giá toàn diện tác động dài hạn của các hiệp định CPTPP, EVFTA và các biến động kinh tế mới đối với thực hành CSR của doanh nghiệp FDI.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc các chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản trị kinh doanh, Kinh doanh quốc tế, Luật kinh tế: Tham khảo khung tổng quan tài liệu về sự dịch chuyển lý thuyết CSR; phương pháp kết hợp DEA (DEAP 2.1) và mô hình hồi quy đa biến (SPSS 22) trên tập dữ liệu doanh nghiệp FDI.
  • Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, VCCI, Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất: Sử dụng các phát hiện thực trạng và khuyến nghị chính sách để hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu quả thu hút dòng vốn FDI có chọn lọc và tăng cường chế tài kiểm soát môi trường, thuế.
  • Lãnh đạo, nhà quản trị doanh nghiệp FDI tại Việt Nam: Tham khảo khung quản trị chiến lược để chuyển đổi mô hình thực thi CSR từ tuân thủ bị động sang chủ động cân bằng lợi ích giữa 4 bên liên quan nhằm củng cố danh tiếng và phát triển bền vững.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiếp cận khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) theo những hướng nào?
Luận án tiếp cận CSR đồng thời từ hai hướng: Hướng tiếp cận từ phía Chính phủ (coi CSR là nghĩa vụ tuân thủ pháp luật sở tại) và hướng tiếp cận từ phía Doanh nghiệp (coi CSR là công cụ quản trị chiến lược chủ động nhằm quản lý mối quan hệ với các bên liên quan và xây dựng danh tiếng doanh nghiệp).

2. Bốn nhóm bên liên quan cốt lõi của doanh nghiệp FDI được luận án xác định gồm những đối tượng nào và nội dung CSR tương ứng là gì?
Bốn nhóm bên liên quan cốt lõi gồm: (1) Chính phủ (nộp thuế, tuân thủ pháp luật); (2) Người lao động (lương thưởng thỏa đáng, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, đào tạo nâng cao tay nghề, môi trường làm việc); (3) Khách hàng (chất lượng, an toàn sản phẩm, bảo vệ người tiêu dùng, minh bạch thông tin); (4) Cộng đồng (bảo vệ môi trường sinh thái, tài trợ từ thiện, đóng góp phát triển kinh tế - xã hội địa phương).

3. Mẫu khảo sát sơ cấp và các công cụ phân tích định lượng trong luận án được triển khai ra sao?
NCS tiến hành điều tra trong tháng 4/2018 bằng bảng hỏi gửi tới các chủ doanh nghiệp và trưởng phòng chiến lược của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam. Phát ra 500 phiếu, thu về 233 phiếu (46,6%), làm sạch còn 208 phiếu hợp lệ. Luận án sử dụng phần mềm DEAP 2.1 để phân tích hiệu quả bao dữ liệu (DEA) và phần mềm SPSS 22 để kiểm tra Cronbach's Alpha, phân tích EFA và chạy mô hình hồi quy tuyến tính đa biến.

4. Đề tài nghiên cứu của Trần Nguyễn Hợp Châu và cộng sự (2018) có mối liên hệ và điểm khác biệt gì so với luận án này?
Đề tài của Trần Nguyễn Hợp Châu và cộng sự (2018) là công trình cấp cơ sở mà NCS là thành viên chính, nghiên cứu tác động của CSR đến danh tiếng, sự đổi mới và khác biệt hóa của doanh nghiệp FDI nhưng sử dụng mô hình hồi quy đơn biến với 21 biến quan sát gộp chung. Luận án kế thừa và phát triển vượt bậc bằng mô hình hồi quy đa biến phân tách 4 bên liên quan độc lập và tích hợp phương pháp DEA.

5. Vì sao giai đoạn 2010 – 2020 được lựa chọn làm phạm vi thời gian nghiên cứu của luận án?
Đây là giai đoạn dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam tăng trưởng mạnh cả về số lượng và tính đa dạng, đóng góp lớn vào nền kinh tế nhưng cũng phát sinh nhiều vấn đề xã hội, môi trường bức xúc. Đồng thời, đây là thời kỳ Việt Nam ký kết và thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) với nhiều cam kết khắt khe về CSR.


Kết luận

Luận án tiến sĩ đã hệ thống hóa và phát triển khung lý thuyết toàn diện về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp FDI tại một quốc gia đang phát triển thông qua việc tích hợp mô hình kim tự tháp, lý thuyết các bên liên quan và lý thuyết tạo lập giá trị chung. Bằng việc kết hợp dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2010 – 2020 và dữ liệu khảo sát 208 doanh nghiệp FDI xử lý qua phần mềm DEAP 2.1 và SPSS 22, công trình đã lượng hóa rõ nét mối quan hệ giữa việc thực hiện CSR đối với 4 bên liên quan (Chính phủ, người lao động, khách hàng, cộng đồng) và danh tiếng của tổ chức. Kết quả nghiên cứu chỉ ra những tồn tại căn bản trong chấp hành pháp luật môi trường, thuế, lao động, đồng thời cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ định hướng đến năm 2030 cho cả cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp FDI trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.