CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu nước ngoài 1.1 Các nghiên cứu tiêu biểu về nội hàm CSR Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đang trở thành chủ đề nghiên cứu nhận được nhiều sự quan tâm trong vài thập kỷ gần đây. Đã và đang có rất nhiều các công trình nghiên cứu chuyên sâu về CSR được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau.
Khi đề cập đến chủ đề CSR của DN, hầu hết các tác giả trên thế giới đều đi từ khái niệm CSR rồi mới mở rộng và nghiên cứu chuyên sâu về các mối quan hệ và các vấn đề liên quan. Mặc dù vậy, mỗi tác giả lại tiếp cận các thuật ngữ này trên các góc nhìn khác nhau. Sau đây, NCS tổng hợp các nghiên cứu về CSR qua các thời kỳ nhằm chỉ ra sự dịch chuyển cũng như phát triển trong nội dung nghiên cứu về CSR. Đây sẽ là cơ sở giúp NCS xác định hướng nghiên cứ và hướng tiếp cận cho luận án của mình.
Sự dịch chuyển trong nội dung nghiên cứu CSR qua các thời kỳ Thời Các nghiên cứu Nội dung chủ Mô hình Sự mơ hồ gian chính yếu về khái niệm CSR 1950s Bowen (1953) Đạo đức và các Kiểm soát các yếu tố Rất cao & trách nhiệm xã bên ngoài DN 1960s hội 1970s Wallich & Lợi ích của DN Hai quan điểm trái Cao McGowan chiều về việc CSR (1970); Friedman mang lại lợi ích hay (1970) tổn thất cho DN 1980s Carroll (1979), Các mô hình Xây dựng khái niệm, Trung bình Wartick & thực hiện trách cơ sở lý thuyết Cochran (1985), nhiệm xã hội Wood (1991) 1990s Freeman (1984), Tiếp cận theo các nghiên cứu thực Thấp 10 Clarkson (1995), hướng các bên nghiệm Jones (1995), liên quan Hart (1997) 2000s Husted & Allen Tiếp cận theo các nghiên cứu thực Rõ ràng (2000), Orlitzky hướng quản trị nghiệm và lợi thế et al (2003) chiến lược cạnh tranh Nguồn: Lee, 2008 và NCS bổ sung +) Trong những năm 1950 đến 1960, khái niệm CSR lần đầu tiên được đề cập hầu hết tập trung vào khía cạnh lý thuyết đối với các DN xã hội ở phạm vi vĩ mô nhằm thúc đẩy việc thực hiện CSR. Nổi bật, tác giả Bowen (1953) trong tác phẩm “trách nhiệm xã hội của doanh nhân” đã đưa ra cách tiếp cận được cho là tiên phong đối với CSR. Cụ thể, CSR là nghĩa vụ của chủ DN trong việc theo đuổi các chính sách, đưa ra các quyết định hoặc thực hiện các chuỗi hoạt động được xã hội mong đợi xét cả về mục tiêu và giá trị của DN. +) Trong những năm 1970, một số nghiên cứu ra đời nhằm mục đích bác bỏ vai trò của CSR.
Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung nhìn nhận dưới góc độ lợi ích của DN và cho rằng CSR là một tổn thất đối với doanh thu của DN và mục tiêu đối đa hoá lợi nhuận cho cổ đông (Friedman, 1970). Cũng trong những năm này, một số nghiên cứu phân tích hai quan điểm trái chiều về CSR nhằm tìm ra một góc nhìn đúng đắn nhất. Wallich & McGowan (1970) đưa ra câu hỏi nghiên cứu liệu các DN nên thực hiện CSR hay không? Ông cho rằng, dưới một góc nhìn hẹp tập trung vào tối đa hoá lợi nhuận cho cổ đông, quan điểm của Friedman là đúng đắn rằng DN không nên thực hiện CSR. Tuy nhiên, hoạt động của DN có mối quan hệ mật thiết đối với xã hội và các chủ thể xung quanh, do đó, DN cần thực hiện CSR nhằm đảm bảo những lợi ích dài hạn.
Quan điểm này đã mở ra hướng nghiên cứu mới về CSR và hiệu quả hoạt động của DN. +) Trong những năm 1980, nhiều nghiên cứu quan trọng ra đời tập trung vào các hoạt động xã hội của DN. Nổi bật, Carroll (1979) đã khẳng định mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội của DN không phải là sự đánh đổi không tương xứng. Mà thay vào đó, cả hai mục tiêu này được tích hợp vào mô hình CSR tổng hợp bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn.
Trong đó trách nhiệm kinh tế có 11 thể có vai trò quan trọng hơn các trách nhiệm còn lại. Tuy nhiên, mỗi trách nhiệm đều phải là một phần tích hợp trong CSR tổng thể của DN và DN cần có những chiến lược thực hiện cụ thể cho từng khía cạnh. +) Trong những năm 1990, nhiều nghiên cứu đã kế thừa cơ sở lý thuyết quan trọng của những năm trước để xây dựng các mô hình nghiên cứu thực nghiệm đưa ra nhiều kết quả nghiên cứu quan trọng. Cụ thể, Freeman(1984) đã đưa ra lý thuyết các bên liên quan và thay đổi hoàn toàn cách nhìn nhận về mục đích hoạt động của DN.
Theo lý thuyết này, không còn sự khác biệt giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội của DN, bởi vì mục tiêu cốt lõi ở đây là sự tồn tại của DN. Trong khi đó, sự tồn tại của DN bị tác động không chỉ bởi cổ đông mà còn bởi rất nhiều các bên liên quan khác như NLĐ, Chính phủ và khách hàng. Chính bởi lẽ đó, các nghiên cứu trong thời kỳ này tập trung vào mối quan hệ giữa CSR và các bên liên quan cụ thể của DN. Đây chính là cơ sở để mở rộng ý nghĩa và phạm vi của CSR hơn nữa.
+) Trong những năm 2000, các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra CSR đem lại hiệu quả tài chính và hiệu quả hoạt động cho DN (Orlitzky et al, 2003). Husted & Allen (2000) đưa ra khái niệm chiến lược là những kế hoạch và hành động được thực hiện để tạo ra những nguồn lực và khả năng đồng nhất nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững và hiệu quả kinh doanh tối ưu cho DN. Các nghiên cứu này đề xuất cách tiếp cận CSR theo hướng quản trị chiến lược, sử dụng CSR như một công cụ chiến lược hữu hiệu giúp DN đạt được các mục tiêu của mình. Những nghiên cứu về CSR cho thấy sự dịch chuyển mạnh mẽ trong khái niệm CSR qua các thời kỳ.
Các khái niệm có sự khác nhau qua các thời kỳ chính là nhờ sự kế thừa và phát triển lên những lý luận mới mẻ. Tất cả các cách hiểu đều cho thấy rõ tầm quan trọng của CSR đối với DN ngày càng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Theo thời gian, CSR không chỉ là một khái niệm được gắn liền với tính đạo đức mà càng ngày, khái niệm CSR lại được gắn nhiều hơn với DN trong cơ chế quản trị. Các nghiên cứu tiêu biểu về CSR đối với các bên liên quan Điểm qua tình hình nghiên cứu tập trung vào CSR đối với các bên liên quan của DN, có thể nói, CSR mang đến đa dạng các lợi ích cho đa dạng các bên liên quan.
Do đó, việc thực hiện CSR một cách chất lượng, thực sự nghiêm túc sẽ mang 12 đến lợi ích trực tiếp cho các bên liên quan, qua đó, mang đến lợi ích gián tiếp cho DN trong dài hạn (Waddock & Graves, 1997; Luo & Bhattacharya, 2009). CSR đối với Chính phủ Đã có nhiều nghiên cứu chi ra vai trò của CSR đối với Chính phủ của một quốc gia thông qua việc đóng góp cho sự phát triền kinh tế, xã hội của quốc gia đó. Trong nghiên cứu của mình, Skare & Golja (2014) đã thực hiện nghiên cứu trên 25 quốc gia trong suốt giai đoạn 2000 – 2008, và chỉ ra tầm quan trọng của CSR đối với tăng trưởng kinh tế (mối quan hệ thuận chiều). Theo nghiên cứu này, những quốc gia thúc đẩy thực hiện CSR mạnh mẽ thường có được tốc độ tăng trưởng cao hơn.
Ngược lại, các quốc gia không có môi trường tổ chức thực hiện CSR và có tính hỗ trợ tốt sẽ gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế. CSR đối với NLĐ Các DN có cam kết CSR mạnh thường có khả năng thu hút nhân tài và giữ chân NLĐ (Turban and Greening 1997; Tsoutsoura, 2004, Bauman và Mashruwala, 2007), dẫn đến giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo. CSR tác động tích cực đến mức độ cam kết của lao động vào các công việc được giao và kết quả làm tăng hiệu quả kinh doanh (Kang, 2009; Wieseke, et al. CSR có tác động ngược chiều với sự bỏ việc của nhân viên và tăng tỷ lệ tuyển dụng được các nhân lực chất lượng cao trong tương lai (Carroll & Shabana, 2010; DeTienne, Agle, Phillips, & Ingerson, 2012).
Solomon và Hanson (1985) chỉ ra rằng các hoạt động liên quan đến CSR sẽ giúp cải thiện tinh thần của nhân viên, trong khi Banker và Mashruwala (2007) chỉ ra các DN thực hiện CSR có mức độ thoả mãn trong công việc của nhân viên cao hơn. Lee et al., (2012) chỉ ra nhận thức của nhân viên về CSR có tác động tích cực đến hiêu quả hoạt động của các công ty Hàn Quốc, mối quan hệ của nhân viên và DN thực hiện CSR cũng tốt hơn. CSR đối với khách hàng Nghiên cứu của Sen và Bhattacharya (2011) chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa thái độ và hành vi của khách hàng đối với các sản phẩm của công ty thực hiện các hoạt động CSR. Khách hàng dựa vào danh tiếng của DN để đánh giá sản phẩm, vì vậy một DN có danh tiếng tốt sẽ đem lại những nhận định tích cực hơn đối với chất lượng sản phẩm và dịch vụ của DN đó (Shapiro, 1983).
Xueming Luo & 13 Bhattacharya (2006), Saei et al., (2015) Fatma và Rahman (2016) Karaosmanoglu et al., (2016) chỉ ra rằng CSR giúp gia tăng sự hài lòng, lòng trung thành và làm tăng doanh số bán hàng thông quan biến trung gian nhận thức của khách hàng. Carroll & Shabana (2010) và Drucker (1984) khẳng định CSR có thể giúp DN thu hút các khách hàng mới. CSR đối với cộng đồng Okeudo (2012) tìm ra mối quan hệ thuận chiều giữa CSR của DN và lợi ích cho toàn xã hội. Cụ thể những lợi ích của CSR không chỉ là những lợi ích từ thiện mà còn giúp tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài, bởi cơ sở hạ tầng sẽ được cải thiện giúp điều kiện kinh doanh tại các khu vực này trở nên hấp dẫn hơn.
Do đó, DN có thể phát triển các mô hình kinh doanh với những giá trị cơ bản được thiết kế cho các bên liên quan khác nhau như như NLĐ, khách hàng, nhà cung ứng, Chính phủ, cộng đồng và nhà đầu tư. Các lợi ích này đến từ việc thực hiện CSR một cách hiệu quả, qua đó mang lại lợi ích cho DN bao gồm các giá trị tài chính và phi tài chính trong dài hạn và ngắn hạn.