Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về trách nhiệm xã hội đối với người lao động của Tập đoàn kinh tế Nhà nước luan an 8 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Thực trạng trách nhiệm xã hội đối với người lao động của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam Chương 5: Giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội đối với người lao động của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam luan an 9 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Trong thời gian qua, chủ đề TNXH với nội dung TNXH đối với NLĐ nhận được nhiều sự quan tâm. Ở một góc độ nhất định, liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của luận án có thể kể đến các nghiên cứu sau: 1. Tổng quan về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nghiên cứu về TNXH của DN trên thế giới đã được thực hiện từ khá lâu. Khi nói đến TNXH của DN, trước tiên phải kể đến cuốn sách “Social Responsibilities of Businessman” của Bowen (1953), đánh dấu một giai đoạn mới hiện đại về lý thuyết TNXH của DN.
Cuốn sách tập trung vào việc làm thế nào TNXH của DN có thể giúp các DN đạt được mục tiêu công bằng xã hội và lợi nhuận kinh tế bằng cách tạo ra phúc lợi cho nhiều nhóm người trong xã hội, ngoài DN và các cổ đông. Từ các góc độ tiếp cận khác nhau, các nghiên cứu về TNXH tập trung vào một số chủ đề sau: TNXH từ góc độ quản trị DN: Từ những nghiên cứu ban đầu về TNXH của DN, các học giả đã chỉ ra những lợi ích và khuyến nghị kinh doanh gắn liền với TNXH (Phạm Vũ Luận, 2004; Nguyễn Mạnh Quân, 2007; Phạm Văn Đức, 2009; Nguyễn Thị Bích Loan, 2008; Carroll và Shabana, 2010). Để có thể áp dụng TNXH vào DN, Lê Thanh Hà (2008) và Phạm Thị Huyền Sang (2016) phân tích các quy định trong các tiêu chuẩn về TNXH trên thế giới, phân tích cơ sở lý luận và thực trạng TNXH của DN theo pháp luật Việt Nam, xu hướng TNXH của DN ở một số nước và khu vực có nền kinh tế thị trường phát triển điển hình trên toàn cầu và so sánh mức độ tương thích với pháp luật nước ta. Lê Thanh Hà (2009a) và Ramon Mullerat (2011) nhận định, để quản trị DN hiệu quả cần chú trọng không ngừng đến các TNXH khác nhau.
TNXH của DN liên quan đến các cam kết của DN về đảm bảo quyền con người, thực hiện tốt các quy định về lao động và môi trường; đảm bảo cân bằng lợi ích của các bên liên quan; đảm bảo quan hệ lao động lành mạnh. Từ góc độ quản trị DN cho thấy, TNXH là yếu tố then chốt và gắn liền với hoạt động kinh doanh của DN. TNXH từ góc nhìn của các bên liên quan: Theo Freeman (1984), có nhiều các bên khác nhau liên quan đến hoạt động của DN, bao gồm các cơ quan chính phủ, các nhóm chính trị, các hiệp hội thương mại, các cộng đồng, các nhà cung cấp, các chuyên luan an 10 gia tài chính, NLĐ, người tiêu dùng và các đối thủ cạnh tranh. Bên liên quan là một nhóm hay một cá nhân mà có thể tạo ra ảnh hưởng hay bị ảnh hưởng bởi việc đạt được các mục tiêu của DN.
Các nghiên cứu trước về TNXH đã khẳng định vai trò của các bên liên quan trong việc tác động lên quyết định tổ chức (McGuire và cộng sự, 1988). Theo Jensen (2001), các nhà quản lý nên đưa ra các nhận định về lợi ích của các bên liên quan trong một DN. Mặc dù, điều này có thể khó để các nhà quản lý xác định những sự đánh đổi cần thiết giữa lợi ích cạnh tranh của các bên liên quan khác nhau, các nhà quản lý được kỳ vọng làm cân bằng các lợi ích này bên trong lợi ích tốt nhất của tổ chức. Dưới góc nhìn của NLĐ, Nghiên cứu của Montgomery và Ramus (2011) chỉ ra rằng họ sẵn sàng từ bỏ thu nhập cao để làm việc cho những DN tác động tích cực đến môi trường tự nhiên, cộng đồng và các bên liên quan khác.
Từ góc độ các nhà quản trị DN, Pless và cộng sự (2012) chỉ ra bốn định hướng mà các nhà lãnh đạo có thể sử dụng để thể hiện TNXH của DN. Skouloudis và cộng sự (2015) nghiên cứu nhận thức của các nhà kinh doanh về các khái niệm đa chiều và phức hợp cao của TNXH. Kết quả nghiên cứu cho thấy sức khoẻ và ATLĐ, quản lý môi trường lành tính cũng như các phương pháp sản xuất có trách nhiệm là những yếu tố tiên quyết trong TNXH của DN tại Hy Lạp. TNXH từ góc độ hình thức sở hữu: nhiều nghiên cứu từ góc độ sở hữu DN hay loại hình DN phân theo mức độ sở hữu cho thấy, các DN có hình thức sở hữu khác nhau thì mức độ thực hiện TNXH khác nhau.
Sahu (2016) khẳng định ở Ấn Độ, các DN trong khu vực kinh tế tư nhân có định hướng hoạt động vì lợi nhuận, do đó, các hoạt động TNXH ít được chú trọng hơn. Trong khi đó, các DN trong khu vực Nhà nước chịu sự chi phối của Nhà nước, vì vậy đầu tư vào các hoạt động TNXH tốt hơn. Nghiên cứu của Singh (2008) và Nash (2012) cũng chỉ ra rằng các TĐKT Nhà nước thực hiện TNXH tốt hơn các DN tư nhân tại Ấn Độ và một trong những lý do là vì các DN tư nhân mới chỉ bị bắt buộc thực hiện TNXH từ khi Luật DN 2013 có hiệu lực, trong khi các TĐKT Nhà nước đã được yêu cầu thực hiện từ nhiều năm trước. Tương tự như vậy, nghiên cứu của Huang và Zhao (2016) cho thấy trong nhiều năm, các công ty tư nhân Trung Quốc đã cải thiện khá nhiều về TNXH, đặc biệt là trong các hoạt động từ thiện.
Tuy nhiên, nhận thức về TNXH ở các DN tư nhân còn cách xa so với các DN Nhà nước. Những nghiên cứu kể trên về TNXH cho thấy có nhiều cách tiếp cận về TNXH. Từ góc độ các nhà quản trị DN cho thấy vai trò của TNXH giúp DN phát luan an 11 triển bền vững. Từ góc độ các bên liên quan, DN cần có TNXH với nhiều các bên khác liên quan đến hoạt động của DN, bao gồm các cơ quan chính phủ, các nhóm chính trị, các hiệp hội thương mại, các cộng đồng, các nhà cung cấp, các chuyên gia tài chính, NLĐ, người tiêu dùng và các đối thủ cạnh tranh.
Từ góc độ hình thức sở hữu, TĐKT Nhà nước thực hiện TNXH tốt hơn các DN tư nhân. Từ đây có thể thấy vai trò của TNXH đối với DN và các bên liên quan trong các TĐKT Nhà nước. Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu nào về TNXH trong TĐKT Nhà nước. Tổng quan về nội dung trách nhiệm xã hội đối với người lao động của Tập đoàn kinh tế Nhà nước 1.
Về nội dung trách nhiệm xã hội đối với người lao động Nghiên cứu về nội dung TNXH đối với NLĐ có thể tìm thấy ở một số công trình thông qua các cách tiếp cận sau: (i) Nội dung TNXH đối với người lao động theo tiêu chuẩn SA8000 SA8000 là bộ tiêu chuẩn quốc tế đầu tiên về TNXH với sứ mạng giúp cải thiện điều kiện làm việc của NLĐ trên phạm vi toàn cầu, được ban hành bởi Tổ chức quốc tế về TNXH của Mỹ (Social Accountability International-SAI) xây dựng và công bố vào năm 1997, dựa trên Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên hợp quốc và các công ước khác của Tổ chức lao động quốc tế (ILO). Do đó, SA8000 là tập hợp các tiêu chuẩn trách nhiệm giải trình xã hội để hoàn thiện các điều kiện làm việc cho NLĐ tại các DN, được sử dụng rộng rãi như những công cụ mới để giúp các DN tổ chức và phối hợp xử lý các vấn đề quản trị, quan hệ với xã hội, môi trường xung quanh. TNXH đối với NLĐ trong bộ tiêu chuẩn SA8000 được xây dựng ở 9 lĩnh vực chính trong DN, bao gồm lao động trẻ em, lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc, sức khỏe và an toàn, tự do nghiệp đoàn và quyền thương lượng tập thể, phân biệt đối xử, xử phạt, giờ làm việc, tiền lương và hệ thống quản lý. Phạm Xuân Hậu (2008) nghiên cứu thực trạng áp dụng SA8000, nguyên nhân của việc số DN đạt tiêu chuẩn quản lý TNXH đối với NLĐ SA8000 ở Việt Nam thấp.
Từ đó, bài viết đề xuất một vài giải pháp nhằm đẩy nhanh việc áp dụng SA8000 cho các DN Việt Nam. (ii) Nội dung TNXH đối với NLĐ theo ISO26000 ISO26000 được ban hành bởi ILO, là bộ tiêu chuẩn tự nguyện nhằm tạo ra luan an 12 khuôn khổ cho các DN thực hiện để nâng cao trách nhiệm, tính minh bạch và ý thức tôn trọng các bên liên quan, mang lại lợi ích cho tất cả các loại hình tổ chức trong khu vực DN tư nhân, công cộng và phi lợi nhuận hoạt động với bất cứ quy mô, phạm vi nào. ISO26000 có 7 chủ đề chính: điều hành tổ chức, nhân quyền, thực hành lao động, môi trường, thực tiễn hoạt động công bằng, các vấn đề liên quan người tiêu dùng, sự tham gia và phát triển của cộng đồng. Trong đó, có hai chủ đề liên quan trực tiếp đến TNXH của DN đối với NLĐ là “nhân quyền” và “thực hành lao động”.
Nhân quyền đề cập đến một số quyền của NLĐ trong DN, thực hành lao động nêu lên các chính sách và thực tiễn liên quan đến công việc trong phạm vi DN. Nhân quyền hướng đến 8 vấn đề: Nỗ lực thích đáng; Tình huống rủi ro về quyền con người; Tránh đồng lõa; Giải quyết khiếu nại; Phân biệt đối xử và nhóm dễ bị tổn thương; Quyền công dân và quyền chính trị; Quyền kinh tế, quyền xã hội và quyền văn hóa; Các nguyên tắc và quyền cơ bản tại nơi làm việc. Thực hành lao động chú trọng vào 5 vấn đề chính: Việc làm và các mối quan hệ việc làm; Điều kiện làm việc và bảo trợ xã hội; Đối thoại xã hội; Sức khỏe và an toàn tại nơi làm việc; Phát triển và đào tạo con người tại nơi làm việc. (iii) Nội dung TNXH đối với NLĐ theo Bộ quy tắc ứng xử BSCI Sáng kiến Tuân thủ Trách nhiệm Xã hội trong Kinh doanh (BSCI) là một sáng kiến theo định hướng DN dành cho những công ty cam kết cải thiện điều kiện làm việc tại các DN trên thế giới.
Sáng kiến này được Hiệp hội Thương mại nước ngoài FTA soạn thảo và giới thiệu, nhằm cung cấp cho các DN Bộ quy tắc ứng xử chung và một hệ thống toàn diện để đạt được sự tuân thủ TNXH trong chuỗi cung ứng.