phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 4 chương như sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lý luận chung về BHXH. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng thực hiện chính sách BHXH cho LĐN Chƣơng 4: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện chính sách BHXH cho LĐN 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH BHXH 1. Tình hình nghiên cứu về chính sách BHXH cho NLĐ Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về chính sách BHXH cho người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng như: - Cuốn sách “Đổi mới và phát triển BHXH ở Việt Nam” của Tiến sĩ Dương Văn Thắng chủ biên, xuất bản năm 2014 đã khái quát lịch sử hình thành và phát triển của BHXH Việt Nam từ những năm trước cách mạng tháng 8 cho đến thời điểm hiện nay. Tác giả đã phân tích rõ nguồn gốc sự ra đời của BHXH trong lịch sử, trong đó dấu ấn là các chính sách và hoạt động BHXH trong các thời kỳ, cải cách chính sách phù hợp với đường lối phát triển KT-XH của Đảng, thí điểm mô hình BHXH ngoài quốc doanh cho đến xây dựng hệ thống BHXHVN hiện đại, chuyên nghiệp.
Cuốn sách đã được viết khá đầy đủ và chi tiết về những văn bản pháp luật đầu tiên quy định về BHXH cho NLĐ, trong đó đã có một số văn bản liên quan đến chế độ thai sản cho công nhân. Điều này cho thấy rằng đội ngũ cán bộ công nhân viên chức Nhà nước đã được Đảng và Nhà nước quan tâm và dần mở rộng đến các nhóm đối tượng là NLĐ ở các thời kỳ sau. Tuy nhiên, việc nhắc đến nhóm công nhân viên chức là nữ trong các các sắc lệnh, thông tư, nghị định, thực hiện chính sách về BHXH không nhiều trong khi đây cũng là nhóm đối tượng chính tham gia đóng hưởng BHXH. Đồng thời việc đổi mới và phát triển BHXH Việt Nam căn bản cũng dựa trên nhu cầu của các nhóm đối tượng, cần phải có hiện trạng, nguyên nhân thực hiện chính sách BHXH cho NLĐ trong các thời kỳ và cũng không thể bỏ qua nhóm lao động đang chiếm gần 50% lực lượng tham gia BHXH.
- Bài viết “Bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ, thực trạng pháp luật và phƣơng hƣớng hoàn thiện” của thạc sĩ Trần Thúy Lâm trong mục nghiên cứu – trao đổi của Tạp chí Luật học, Đặc san Phụ nữ (năm 2009) đề cập đến những quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ, phân tích những điểm 4 z còn bất cập của pháp luật và trên cơ sở đó đưa ra hướng hoàn thiện. Tuy nhiên, bài viết chỉ đề cập đến những quy định riêng về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ thể hiện ở các yếu tố đặc thù như: chế độ nghỉ để chăm sóc con ốm, chế độ trợ cấp thai sản và chế độ hưu trí, chưa đánh giá được tổng quát thực trạng pháp luật đối với các loại bảo hiểm xã hội như bảo hiểm tự nguyện, bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp đối với lao động nữ có những tồn tại nào, nguyên nhân và biện pháp khắc phục. - Đề tài luận văn thạc sĩ ngành Luật kinh tế, trường Đại học Luật” Pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ ở Việt Nam hiện nay” (2012), của tác giả Nguyễn Lan Hương đã đưa ra được các vấn đề lý luận chung về BHXH và BHXH cho lao động nữ, đồng thời phân tích và làm rõ các quy định, thực trạng áp dụng cho chế độ BHXH cho người lao động nữ theo pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến thực tế thực hiện, kết quả đạt được và những tồn tại trong việc thực hiện BHXH cho lao động nữ, đưa ra đề xuất để hoàn thiện các quy định về chế độ BHXH cho lao động nữ ở Việt Nam dựa trên việc nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật của một số nước về BHXH.
Nghiên cứu này được đặt trong bối cảnh nghiên cứu luật pháp quốc tế và pháp luật của một số nước để chỉ ra được những điều mà Việt Nam chưa làm được. Điều quan trọng thực trạng luật pháp về thực hiện BHXH đối với lao động nữ cần phải được đặt trong bối cảnh chung về người lao động, Đề tài nghiên cứu cũng chỉ dừng ở nghiên cứu lý luận là chính, chưa đưa ra được thực tiễn thực hiện pháp luật BHXH cho LĐN như thế nào. - Bài viết“ Nội luật hóa Cedaw về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ khi dự thảo luật bảo hiểm xã hội” viết của thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Phụng đăng trên mục pháp luật lao động Việt Nam với việc thực hiện CEDAW, Tạp chí luật học số 3/2006. Trong bài viết này, tác giả tập trung đánh giá các quy định riêng của BHXH đối với lao động nữ theo pháp luật hiện hành, trên cơ sở các nguyên tắc chung trong Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (Cedaw) để đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện Dự thảo Luật BHXH 2006.
Bên cạnh đó, tác giả nhấn mạnh trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cần phải hứơng 5 z đến sự bình đẳng giữa nam và nữ, lao động nam và lao động nữ trong quyền lợi và nghĩa vụ thực hiện BHXH. Bài viết đã phân tích rõ các quy định riêng cho LĐN và so sánh, đối chiếu với quy định của CEDAW để áp dụng sửa đổi trong dự thảo luật BHXH năm 2006. Tác giả không phân tích các chế độ BHXH này đã phù hợp với LĐN ở Việt Nam chưa, hiện trạng đối tượng LĐN này thực hiện chính sách này ra sao và gặp những khó khăn gì để từ đó cần phải nội luật hóa CEDAW đảm bảo quyền lợi NLĐ nhưng vẫn phù hợp với bối cảnh của đất nước. - Bài viết” Bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ trong pháp luật một số nƣớc Asean và những kinh nghiệm cho Việt Nam” của Ts Nguyễn Thị Kim Phụng và Ts Nguyễn Hiền Phương đăng trong mục Quyền của phụ nữ theo pháp luật các nước Asean ,Tạp chí luật học số 2/2010 đã phân tích được những quy định, các chính sách cơ bản về BHXH dành cho lao động nữ ở các nước trong khu vực ASEAN, đưa ra được sự tương đồng và khác biệt về pháp luật quy định về BHXH cho đối tượng lao động là nữ giữa Việt Nam và các nước trong khối, từ đó đưa ra các đề xuất và bài học kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam.
Tuy nhiên, bài viết chỉ dừng ở việc phân tích các quy định, các văn bản pháp luật liên quan đến chế độ BHXH cho lao động nữ, so sánh và đối chiếu với lao động nam mà chưa nêu rõ thực trạng thực hiện các quy định này tại các nước như thế nào, trong quá trình thực hiện còn tồn tại, yếu kém gì để có các biện pháp khắc phục, đề xuất trong quá trình xây dựng luật để bảo vệ quyền lợi cho lao động nữ. - Ngoài các đề tài nghiên cứu và các bài viết nghiên cứu ở trên còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu, bài viết, hội thảo khác về các rào cản của phụ nữ trong việc tham gia BHXH, Luật BHXH và các chính sách cho lao động nữ, về việc kiến nghị và đóng góp ý kiến trong việc hoàn thiện các dự thảo Luật BHXH, thực trạng thực hiện chính sách BHXH ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, trong phạm vi hiểu biết của tác giả, chưa có công trình nào nghiên cứu về thực trạng thực hiện BHXH dành riêng cho người lao động nữ. Có thể nói việc lồng ghép yếu tố Giới trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam vẫn còn nhiều trở ngại, bên cạnh công tác thống kê ở các lĩnh vực hoạt động chưa có quy định phải phân tách số liệu giới gây 6 z khó khăn cho việc báo cáo, thống kê giới trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là BHXH.
Khái quát chung về chính sách BHXH 1. Khái niệm BHXH Ở giai đoạn công xã nguyên thủy là hình thức tổ chức đầu tiên của loài người, chưa có sự tư hữu, sở hữu riêng, con người sống thành bầy đàn, ăn chung ở chung, do đó cũng hình thành sự sở hữu chung về tư liệu sản xuất. Con người đều có nhu cầu và hưởng cuộc sống như nhau, không có sự phân chia giai cấp, giàu nghèo. Khi sản xuất phát triển, con người có các sản phẩm dư thừa, họ trao đổi lẫn nhau và có sự tư hữu về tư liệu sản xuất, xuất hiện giai cấp.
Từ đó, kéo theo nhu cầu sức lao động ngày càng tăng. Theo Mác” Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”. Sức lao động là yếu tố cơ bản của mọi quá trình sản xuất và trở thành hàng hóa khi người lao động được tự do về thân thể, tức là có quyền tự chủ về sức lao động của mình và chỉ bán sức lao động trong một thời gian nhất định và khi người lao động không có tư liệu sản xuất, họ phải bán sức lao động của mình để duy trì cuộc sống. Như vậy, để làm ra hàng hóa thông thường, để tạo ra lượng giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động và để tạo ra giá trị gia tăng thì các yếu tố về tinh thần, thể chất tồn tại trong người lao động phải đuợc tái tạo thường xuyên.
Năng lực lao động của con người không phải là vô hạn, mà là hữu hạn và không phải bất kỳ người lao động nào cũng có đủ điều kiện về sức khỏe thể chất và tinh thần để hoàn thành nhiệm vụ lao động. Khi nền kinh tế phát triển, yêu cầu và đòi hỏi về lao động ngày càng tăng để đáp ứng sự phát triển và đòi hỏi của kinh tế thị trường thì việc tái tạo lại sức lao động đóng vai trò vô cùng quan trọng. Cũng keo kinh tế học Mác Lê Nin thì “tái sản xuất mở rộng sức lao động về mặt chất lượng thể hiện ở sự tăng lên về thể lực (sức khỏe) và trí tuệ của người lao động qua các chu kỳ sản xuất.