CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát chung về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) 1.1 Các quan điểm về CSR Milton Friedman (Capitalism and Freedom, The University of Chicago Press, 2002) khẳng định: “Doanh nghiệp chỉ có một trách nhiệm duy nhất là tối đa hóa lợi nhuận, gia tăng giá trị cổ đông, trong khuôn khổ luật chơi của thị trường là cạnh tranh trung thực và công bằng.” Theo quan niệm này, người quản lý doanh nghiệp bao gồm thành viên hội đồng quản trị và ban giám đốc là những người đại diện cho chủ sở hữu/cổ đông, trực tiếp quản lý công ty. Thành phần này được bầu hoặc được thuê để dẫn dắt công ty với mục tiêu, thúc đẩy hoạt động kinh doanh để tối đa hóa lợi nhuận, đồng thời tuân thủ các quy tắc xã hội cơ bản vốn đã được thể hiện trong luật và các nguyên tắc đạo đức phổ biến. Đó chính là bản chất vì lợi nhuận (for-profit) của doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp chỉ có trách nhiệm đối với cổ đông là người chủ sở hữu công ty đã lựa chọn họ để làm đại diện. Kết quả, người quản lý công ty có toàn quyền để thực hiện các trách nhiệm xã hội dựa trên nhận thức và mong muốn cá nhân và bằng thời gian và tiền bạc của cá nhân, nhưng không được sử dụng nguồn lực của công ty và nhân danh công ty, nếu không được cổ đông ủy thác hoặc đồng ý tiến hành việc đó.
Theo quan điểm này, các trách nhiệm xã hội thuộc lĩnh vực của nhà nước, là chủ thể cung cấp các dịch vụ công, vì lợi ích công cộng và phi lợi nhuận. Chỉ có nhà nước mới có đủ thông tin để quyết định đúng đắn trong việc phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả. Trách nhiệm của doanh nghiệp là tạo ra giá trị gia tăng, phát triển công nghệ (bởi vì doanh nghiệp là chủ thể vì lợi nhuận duy nhất trong xã hội), đem lại lợi nhuận, tạo ra việc làm và thu nhập cho người lao động. Trách nhiệm chính của doanh nghiệp đối với nhà nước là đóng góp thuế.
Và trách nhiệm của nhà nước là làm sao sử dụng tiền thuế đó hiệu quả nhất vì lợi ích công cộng. Như vậy, nếu doanh nghiệp cũng thực hiện các trách nhiệm xã hội thì sẽ có sự trùng lặp và doanh nghiệp sẽ trở thành người vừa đóng thuế, vừa quyết định việc chi tiêu khoản thuế đó ra sao. Người quản Luan van 7 lý doanh nghiệp khi ấy sẽ trở thành một nhân viên công vụ hơn là một người đại diện cho lợi ích của cổ đông. Mặt khác, kể cả khi một người quản lý doanh nghiệp được sử dụng nguồn lực của công ty để thực hiện trách nhiệm xã hội dựa trên phán đoán chủ quan của mình, thì không có gì đảm bảo rằng quyết định của anh ta là sáng suốt và đúng đắn cho mục tiêu xã hội cuối cùng.
Do đó, nếu muốn thực hiện trách nhiệm xã hội, các cổ đông có thể làm với tư cách cá nhân, tự nguyện và tách biệt với công ty (vốn có sở hữu của cả các cổ đông khác) mà không nên thông qua công ty và những người quản lý công ty. Từ quan điểm này, xuất phát trường phái cho rằng các chương trình của doanh nghiệp lấy tên “trách nhiệm xã hội” chỉ là những chương trình PR đạo đức giả, mà thực chất mục tiêu cuối cùng vẫn là vì lợi nhuận của doanh nghiệp. Một số lập trường cho rằng bản thân công ty khi đi vào hoạt động đã là một chủ thể, sử dụng nguồn lực của xã hội và môi trường, do đó có thể tác động tiêu cực tới xã hội và môi trường. Những người suy nghĩ tích cực về tác động của CSR khẳng định doanh nghiệp phải có ý thức về những tác động từ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và có trách nhiệm với chính hành vi của mình trước xã hội.
Họ nhấn mạnh, bản chất của doanh nghiệp không thể chỉ vì lợi nhuận mà phải đóng vai trò của một “công dân” trong xã hội với tất cả nghĩa vụ và quyền lợi thích hợp của mình trong đó. Và người quản lý với tư cách là người thác quản doanh nghiệp cần thực hiện các trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp vì nghĩa vụ và lợi ích của chính doanh nghiệp mình. Trách nhiệm của họ không phải là việc quyết định điều gì tốt hay xấu cho xã hội, mà là đáp ứng những điều mà xã hội mong muốn và trông đợi ở doanh nghiệp như một thành viên đầy đủ trong đó. CSR chính là lực cản cuối cùng giúp giữ doanh nghiệp không đi quá đà vì lợi ích kinh tế mà vi phạm các chuẩn mực đạo đức (vốn không phải lúc nào cũng được thể hiện đầy đủ bằng các quy định pháp luật), bỏ quên những tác động tiêu cực của mình đến các thành phần khác trong xã hội.2 Khái niệm “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” Luan van 8 Từ thập niên 60 của thế kỷ XX, khái niệm “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” được xuất hiện.
Trong cuốn “Chủ nghĩa tư bản và tự do” (Capitalism and Freedom), tác giả Milton Friedman xác định “Doanh nghiệp chỉ có một và chỉ một trách nhiệm duy nhất, đó là sử dụng nguồn tài nguyên và tham gia hoạt động nhằm tăng lợi nhuận của mình, miễn sao tuân thủ các luật chơi, tham gia cạnh tranh công khai và tự do, không lừa gạt và gian lận”. Cách định nghĩa của Friedman có vẻ nhấn mạnh đến tính chất “tăng lợi nhuận”, nghĩa là đảm bảo quyền lợi cho một nhóm xã hội - cổ đông, chưa hướng tới các nhóm công chúng rộng hơn, cụ thể là xã hội. Keith Davis (1973) đưa ra định nghĩa: “CSR là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ”. Archie Carroll (1999) mang tới cho khái niệm CSR một phạm vi lớn hơn “CSR bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định”.233) Theo Matten và Moon (2004), “Trách nhiệm xã hội là một khái niệm bao gồm nhiều khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường.
Đó là khái niệm động và luôn được thử thách trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”.2) Trong khi đó, Hội đồng Doanh nghiệp thế giới vì sự bền vững định nghĩa: “CSR là sự cam kết trong việc ứng xử đạo lý và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ, cũng như cộng đồng địa phương và của toàn xã hội nói chung”. Và gần đây, Nhóm Phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra định nghĩa: “CSR là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông Luan van 9 qua những việc làm nâng cao chất lượng đời sống người lao động và các thành viên trong gia đình họ; cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”. Tác giả Dương Thị Liễu, Giáo trình Văn hóa Kinh doanh, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2011, tr108, đưa ra định nghĩa: “CSR là cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”. Về phương diện quản lý nhà nước, nhiều nước đã thể chế hoá nội dung về trách nhiệm xã hội, đưa vào các văn bản luật và quy định khác dưới nhiều hình thức khác nhau.
Năm 1999, một thỏa thuận toàn cầu (Global compact) đã được Tổng thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan đề xuất tại Diễn đàn kinh tế thế giới và tháng 7/2000 đã chính thức ra mắt như một Bộ quy tắc ứng xử của Liên hợp quốc về trách nhiệm xã hội các công ty đa quốc gia (gọi tắt là UNGC). Bộ quy tắc này, bao gồm 10 quy tắc đảm bảo tôn trọng nhân quyền, dân sinh, chống lạm dụng trẻ em, lao động cưỡng bức, bảo vệ môi trường, chống tham nhũng… tuy không phải là văn bản có tính bắt buộc nhưng được thừa nhận như một khuôn khổ thảo luận chính thức tại các diễn đàn của Liệp hợp quốc. Đối với các thiết chế khu vực, CSR cũng đã được Ủy ban châu Âu chính thức công nhận từ rất sớm: “là việc các doanh nghiệp đưa mối quan tâm về xã hội và môi trường vào các hoạt động kinh doanh và mối quan hệ của họ với các cổ đông của mình, trên cơ sở tự nguyện.” Có thể thấy, có nhiều định nghĩa về trách nhiệm xã hội và theo thời gian, phạm vi của khái niệm này cũng được thay đổi và mở rộng. Trong phạm vi luận văn, người viết sẽ đưa ra định nghĩa là sự tổng hợp của các tác giả trước đã nghiên cứu về CSR.
Cụ thể, trong phạm vi luận văn này, trách nhiệm xã hội (CSR) được hiểu là những cam kết của doanh nghiệp vì mục tiêu đóng góp để các nhóm đối tượng phát triển theo hướng bền vững, trong đó các nhóm đối tượng được kể đến bao gồm: khách hàng, môi trường, cộng đồng, các cổ đông. Các hình thức của trách nhiệm xã hội thể hiện ở việc tuân thủ luật pháp, tôn trọng người lao động, thực hiện nghiêm Luan van 10 túc cam kết với khách hàng, cổ đông và ưu tiên việc bảo tồn, duy trì sự phát triển cho cộng đồng. Như vậy, định nghĩa này chỉ ra bản chất của trách nhiệm xã hội chính là sự cam kết và các nhóm đối tượng mà trách nhiệm xã hội đóng góp vì sự phát triển bền vững. Một bộ phận thường nhầm lẫn giữa khái niệm “trách nhiệm xã hội” với “đạo đức kinh doanh”.
Trách nhiệm xã hội là nghĩa vụ doanh nghiệp thực hiện nhằm giảm tác động tiêu cực và tối đa hóa tác động tích cực tới các nhóm đối tượng xã hội. Trong khi đó, đạo đức kinh doanh bao gồm các quy định, tiêu chuẩn quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trách nhiệm xã hội là cam kết với xã hội của doanh nghiệp còn đạo đức kinh doanh là quy định về phẩm chất đạo đức của doanh nghiệp.