phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Luâ ̣n văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân của ngƣời lao động. Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam trong việc bảo vệ quyền nhân thân của ngƣời lao động. Chƣơng 3: Một số giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền nhân thân của ngƣời lao động trong pháp luật lao động Việt Nam. 4 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG 1.
Khái quát chung về quyền nhân thân của ngƣời lao động 1. Quan niệm về quyền nhân thân của người lao động Trong Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 khai sinh ra nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn một câu nói nổi tiếng trong Bản Tuyên ngôn nhân quyền của nƣớc Mỹ: "Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không thể chối cãi. Trong các quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…” Nhƣ vậy, có thể nhận thấy trong các quyền dân sự của con ngƣời, quyền nhân thân là một trong những quyền cơ bản và quan trọng nhất.
Quyền nhân thân đƣợc biết đến là một phần của khái niệm quyền công dân, từ khi sinh ra tất cả mọi ngƣời đều có quyền nhân thân và quyền này chỉ chấm dứt khi ngƣời đó chết. Quyền nhân thân không nằm trong phạm trù tài sản không thể chuyển nhƣợng, định đoạt chuyển giao cho ngƣời khác. Quyền nhân thân mang tính xã hội sâu sắc, phản ánh sự phát triển của xã hội, thể hiện thái độ của nhà nƣớc đối với công dân. Một xã hội văn minh, tiến bộ là xã hội mà trong đó các quyền nhân thân của con ngƣời đƣợc đảm bảo.
Điều 50 Hiến pháp 1992 sửa đổi bố sung 2001 quy định “ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Điều 24 BLDS 2005 cũng quy định “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Quy định này đã nêu lên khái niệm về quyền nhân thân thông qua hai đặc điểm cơ bản đó là gắn liền với cá nhân và không thể chuyển dịch. Tuy nhiên bên cạnh các đặc điểm của quyền dân sự đó còn có những đặc điểm đặc biệt là mang giá trị 5 tinh thần và không định giá đƣợc.
Nhƣ vậy, cách hiểu toàn diện nhất về quyền nhân thân là “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn với đời sống tinh thần của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” [17. NLĐ là một cá nhân trong xã hội và trƣớc hết họ cũng là một công dân, do đó họ có những quyền nhân thân cơ bản của một công dân nhƣ: quyền đối với họ tên, dân tộc, quốc tịch, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín…Tuy nhiên, khi tham gia vào một quan hệ lao động cụ thể, với một NSDLĐ cụ thể, các quyền nhân thân của NLĐ sẽ bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố nhƣ điều kiện lao động, thái độ của chủ sử dụng, chế độ làm việc…Nhƣ vậy, luật dân sự chỉ là cơ sở xác định các giá trị nhân thân của NLĐ. Trên cơ sở đó, Luật lao động cũng có những quy định phù hợp, đặc thù liên quan đến việc tôn trọng và bảo vệ các quyền nhân thân của NLĐ trong phạm vi điều chỉnh của mình. Nói một cách cụ thể: “Quyền nhân thân của người lao động là quyền lao động và các quyền đối với tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín…của người lao động trong quá trình tham gia quan hệ lao động với người sử dụng lao động”.
Việc xác định nội dung cụ thể của các quyền nhân thân của NLĐ có ý nghĩa rất quan trọng để xây dựng các chế định luật nhằm bảo vệ toàn diện NLĐ – một nhiệm vụ đặc trƣng của luật lao động Việt Nam. Phân loại quyền nhân thân của người lao động BLDS 2005 liệt kê tƣơng đối nhiều các quyền nhân thân (từ Điều 26 đến Điều 51), bao gồm: quyền đối với họ tên; quyền thay đổi họ tên; quyền xác định dân tộc; quyền đƣợc khai sinh, khai tử; quyền đối với hình ảnh; quyền đƣợc đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể; quyền hiến bộ phận cơ thể; quyền nhận bộ phận cơ thể ngƣời; quyền xác định lại giới tính; quyền đƣợc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền bí mật đời tƣ; quyền kết hôn, quyền bình đẳng vợ chồng; quyền đƣợc hƣởng sự chăm sóc giữa các thành 6 viên trong gia đình; quyền ly hôn; quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con; quyền đƣợc nuôi con nuôi và quyền đƣợc nhận làm con nuôi; quyền đối với quốc tịch; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại, tự do cƣ trú; quyền lao động, quyền tự do kinh doanh; quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo. Điều 738 và Điều 751 BLDS 2005 còn quy định thêm một số quyền nhân thân nhƣ: quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, đƣợc nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm đƣợc công bố, sử dụng; quyền công bố hoặc cho phép ngƣời khác công bố tác phẩm; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho ngƣời khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm; quyền đứng tên tác giả trong văn bằng bảo hộ sáng chế, kiểu dáng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng [17. Các quyền nhân thân này có thể đƣợc phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, mỗi tiêu chí thể hiện một khía cạnh pháp lý đặc thù.
Thông qua các phân loại đó, chúng ta sẽ hiểu đƣợc rõ nét hơn bản chất pháp lý của từng loại quyền nhân thân, từ đó nhận diện đƣợc chính xác các hành vi xâm phạm và đề ra đƣợc phƣơng thức bảo vệ thích hợp nhất. Tuy nhiên, xét dƣới góc độ quyền nhân thân của NLĐ cũng nhƣ căn cứ trên các quy định của pháp luật lao động thì có thể phân loại quyền nhân thân của NLĐ thành 3 nhóm chính nhƣ sau: Nhóm thứ nhất là quyền lao động : pháp luật lao động Việt Nam bảo vệ quyề n nhân thân của NLĐ thông qua các quy định về việc làm; các quy định về quyền tự do lao động, lựa chọn việc làm của NLĐ; các quy định về việc đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động của NSDLĐ và sa thải NLĐ; và các quy định về xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định về việc làm và hợp đồng lao động. Nhóm thứ nhất là quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe thân thể của NLĐ. Trong đó bao gồm các nội dung: quy định chế độ làm việc, 7 nghỉ ngơi hợp lý; quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động; quy định về chế độ tiền lƣơng hợp lý nhằm bù đắp hao phí sức lao động, bảo đảm sức khỏe cho NLĐ.
Thân thể của mỗi cá nhân không phải là tài sản, mà thuộc về nhân thân của cá nhân đó. Các quyền liên quan đến thân thể của NLĐ đƣợc bảo vệ một cách giống nhau ở mọi NLĐ (tính mạng, sức khoẻ, thân thể của mỗi cá nhân đều đƣợc bảo vệ nhƣ nhau và đều là vô giá mà không phụ thuộc vào giới tính hay địa vị xã hội) và đƣợc bảo vệ một cách tuyệt đối khỏi sự xâm phạm của bất kỳ chủ thể khác, bất kể chủ thể quyền có yêu cầu hay không yêu cầu đƣợc bảo vệ. Nhóm thứ ba là quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền lao động của NLĐ. Trong đó bao gồ m các quy đinh ̣ về cấ m phân biê ̣t đố i xƣ̉ , NLĐ đƣơ ̣c tôn trọng, đƣợc đối xử bình đẳng và đúng việc (NLĐ đƣợc tham gia công đoàn; khi đình công NSDLĐ không đƣợc vùi dập – trả thù, khi có vi phạm xảy ra chủ sử dụng lao động cũng phải thực hiện các biện pháp xin lỗi công khai).
Nghiêm cấ m mo ̣i hành vi : quấy rối tình dục và ngƣợc đãi ngƣời lao động… Việc phân loại quyền nhân thân của NLĐ sẽ tạo nền tảng để xây dựng các quy định PLLĐ phù hợp nhằm bảo vệ quyền lợi của NLĐ một cách hiệu quả nhất bởi đối với mỗi nhóm quyền nhân thân pháp luật sẽ có những cơ chế bảo vệ riêng. Ý nghĩa quyền nhân thân của người lao động Đối với người lao động Sức khỏe, tính mạng là những thứ quý giá nhất của con ngƣời không gì có thể thay thế đƣợc. Khi tham gia vào quan hệ lao động, cái mà NLĐ và NSDLĐ trao đổi chính là “sức lao động” của NLĐ. Tuy nhiên, trong quan hệ lao động NLĐ luôn ở vị trí yếu thế hơn, chính vị vậy quyền lợi của NLĐ khó có thể đƣợc đảm bảo.
Bởi lẽ, khi đảm bảo các quyền liên quan đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm… cho NLĐ sẽ đồng nghĩa với việc NSDLĐ sẽ 8 phải mất thêm nhiều khoản chi phí, phải thực hiện một số thủ tục nhất định…mà họ hoàn toàn không mong muốn. Không những thế, những quyền liên quan đến danh dự, nhân phẩm của NLĐ cũng thƣờng xuyên không đƣợc đảm bảo, ở địa vị ngƣời có quyền quản lý, nhiều NSDLĐ sẵn sàng có những hành vi xâm hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của NLĐ… Đối với NLĐ nói chung, tìm đƣợc việc làm đã là một việc khó khăn, là mong ƣớc của họ. Nhƣng khi tham gia vào một quan hệ lao động cụ thể để đổi lấy thu nhập, họ lại đứng trƣớc rất nhiều sự thiệt thòi. Chính vì vây, pháp luật đặt ra vấn đề bảo vệ quyền nhân thân của NLĐ có ý nghĩa hết sức to lớn và thiết thực đối với họ.
Thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ nâng cao vị thế, đảm bảo tâm lý ổn định cho NLĐ yên tâm tham gia vào quan hệ lao động và không vì nhu cầu mƣu sinh mà phải mất đi những giá trị quý giá của một con ngƣời. Nhận thức đúng đắn về quyền nhân thân của NLĐ cũng nhƣ bảo vệ quyền nhân thân của NLĐ sẽ tránh việc biến NLĐ trở thành một thứ máy móc, tránh coi sức lao động là một thứ “tài sản vô hình” đƣợc phép “hao mòn”.