CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu Sự phát triển nhanh chóng của thị trường vốn Việt Nam không chỉ tạo ra những thay đổi trong cấu trúc kinh doanh của nó, mà còn tạo ra những vấn đề quan trọng mới cho các hoạt động kế toán và báo cáo của Việt Nam. Đặc biệt, nó giới thiệu những người sử dụng thông tin doanh nghiệp mới ngoài nhà nước, bao gồm các nhà đầu tư, chủ nợ, nhà phân tích tài chính, các nhà môi trường và các bên liên quan khác. Theo nền kinh tế kế hoạch tập trung, người sử dụng duy nhất của thông tin doanh nghiệp là nhà nước, sử dụng các báo cáo kế toán hẹp hơn cho các mục đích lập kế hoạch và lập ngân sách của nhà nước.
Sự phân tán rộng rãi hơn của người sử dụng thông tin trong nền kinh tế định hướng thị trường với kỳ vọng của các bên liên quan gia tăng dẫn đến những động cơ mới cho các nhà quản lý doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam để cải thiện hoạt động và nâng cao danh tiếng của bản thân các doanh nghiệp. Để đáp ứng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường vốn, các nhà quản lý Nhà nước ở Việt Nam đã ban hành nhiều quy định với mục đích điều tiết và cải thiện các hoạt động báo cáo của các doanh nghiệp. Quy chế báo cáo doanh nghiệp tại Việt Nam bao gồm Luật Chứng khoán 2006 và Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS). Nhìn chung, đến nay, các quy định báo cáo hiện hành không yêu cầu bắt buộc các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam công bố thông tin về xã hội và môi trường.
Do đó, công bố thông tin trách nhiệm xã hội vẫn còn tự nguyện trong các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam. Các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu trên thế giới Sự kỳ vọng về vai trò trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong xã hội đang ngày càng tăng và các nghiên cứu gần đây đối với trách nhiệm xã hội cho thấy rằng đã có sự phát triển của một loạt các công cụ nhằm mục đích nâng cao, đánh giá thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Nghiên cứu xem xét các khái niệm về trách nhiệm xã hội đã tồn tại từ thập niên 1950, cho đến trong thập niên 1970 (Carroll, 1999) và ngày càng tăng trong những năm 1990 (De Bakker, 123doc 6 Groenewegen và Hond, 2005).
Tương tự như vậy, các thực hành về công bố thông tin liên quan đến vấn đề môi trường và xã hội đã được phổ biến và cải tiến, phát triển mạnh mẽ trong nhiều thập kỷ qua (Deegan, 2002). Công bố thông tin về hoạt động trách nhiệm xã hội của một tổ chức tạo thành một phần không thể tách rời của công bố thông tin. Công bố thông tin trách nhiệm xã hội là một công cụ quan trọng để trao đổi với các bên liên quan về các hoạt động trách nhiệm xã hội của tổ chức. Như vậy, nó hình thành một điều lệ cho quan hệ công chúng và tạo sự hiểu biết lẫn nhau, quản lý xung đột tiềm năng (Grunig, 1989) và để đạt được tính hợp pháp (Aldrich và Fiol, 1994).
Bài nghiên cứu “The Influence of Governance Structure and Strategic Corporate Social Responsibility Toward Sustainability Reporting Quality” của tác giả Azlan Amran và cộng sự công bố trên tạp chí Business Strategy and the Environment, số 23, trang 217-235 năm 2013. Bài nghiên cứu cho rằng sự phức tạp ngày càng gia tăng trong hoạt động kinh doanh cùng với sự chuyển đổi mạnh mẽ mang tính toàn cầu đã thúc đẩy các doanh nghiệp hành xử có trách nhiệm với xã hội và phát triển bền vững. Nhiều tập đoàn cam kết thực hành kinh doanh bền vững trong các báo cáo bền vững của họ. Nghiên cứu này xem xét vai trò của hội đồng quản trị đến chất lượng báo cáo bền vững (SRQ) của 113 doanh nghiệp trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.
Trong đó SRQ được đo lường thông qua mô hình của Clarkson et al. (2008) và Sutantoputra (2009) với 10 chỉ số đo lường các khía cạnh môi trường, xã hội và hiệu quả của doanh nghiệp. Nghiên cứu sử dụng nhóm biến độc lập (thành phần hội đồng quản trị, quy mô ban giám đốc, sự độc lập của ban giám đốc, phân bổ giới tính, chiến lược trách nhiệm xã hội, tầm nhìn doanh nghiệp và cam kết CSR) và các biến kiểm soát (quy mô doanh nghiệp, quốc gia, ngành, cấu trúc hội đồng quản trị). Kết quả nghiên cứu cho thấy tầm nhìn doanh nghiệp và cam kết CSR ảnh hưởng tích cực đến SRQ.
123doc 7 Bài nghiên cứu “Corporate social responsibility reporting in financial institutions: Evidence from Euronext” của tác giả Andreas Andrikopoulos và cộng sự công bố trên tạp chí Research in International Business and Finance, số 32, trang 27-35 năm 2014. Tính hợp pháp, danh tiếng và sự ảnh hưởng lên xã hội của các tổ chức tài chính là lớn hơn nhiều so với cách hiểu thông thường là nhà cung cấp vốn hay trung gian tài chính. Nghiên cứu này khám phá các nhân tố quyết định đến việc thực hiện công bố thông tin trách nhiệm xã hội trực tuyến trên trang thông tin điện tử của 93 tổ chức tài chính thuộc 4 lĩnh vực lớn (ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ tài chính và đầu tư) được niêm yết trong thị trường chứng khoán Euronext giai đoạn 2009-2013. Các biến nghiên cứu bao gồm các chỉ tiêu tài chính SIZE, LEVERAGE, MARKET-TO-BOOK, PROFITABILITY và chỉ tiêu đo lường công bố thông tin trách nhiệm xã hội gồm 22 chỉ tiêu đánh giá trên các phương diện môi trường, đạo đức và con người.
Nghiên cứu đánh giá mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội là cao hơn trong các doanh nghiệp lớn và trong các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao hơn. Nhu cầu tăng vị thế của doanh nghiệp và rủi ro tài chính làm tăng nhu cầu của các bên liên quan về tính minh bạch trong các ảnh hưởng xã hội của các tổ chức tài chính và các thực hành trách nhiệm xã hội của họ. Doanh nghiệp hiệu quả hơn có xu hướng làm tốt trách nhiệm xã hội hơn, công bố thông tin minh bạch hơn. Bài nghiên cứu “Corporate Social Responsibility Reporting in China: Symbol or Substance?” của hai tác giả Christopher Marquis và Cuili Qian công bố trên tạp chí Organization Science, số 25, trang 127-148 năm 2014.
Nghiên cứu này tập trung vào cách thức phản ứng và lí do tại sao của các loại hình doanh nghiệpvới chính trị trong việc phát hành báo cáo trách nhiệm xã hội. Cơ sở dữ liệu của nghiên cứu bao gồm các báo cáo CSR phát hành công khai trong giai đoạn từ 2006 đến 2009 của khoảng 1.600 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Thượng Hải hoặc Thâm Quyến tại Trung Quốc. Nghiên cứu xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát hành báo cáo CSR và mức độ thông tin trách nhiệm xã hội được công bố trong báo cáo CSR của doanh nghiệp thông qua áp dụng mô hình hồi quy logistic và mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS). Mô hình bao gồm các 123doc 8 biến kiểm soát môi trường doanh nghiệp (quy mô doanh nghiệp, yêu cầu báo cáo, truyền thông, kinh nghiệm báo cáo, sở hữu nước ngoài, loại thị trường chứng khoán), các biến độc lập (private control - sở hữu tư nhân, firm age - tuổi doanh nghiệp, ROA - tỷ suất sinh lời, slack resources - tài nguyên dự trữ, CEO as government official - giám đốc điều hành là thành viên tổ chức chính trị, regional institutional development - sự phát triển khu vực).
Theo mô hình hồi quy logistic thì quy mô doanh nghiệp, yêu cầu báo cáo, truyền thông, kinh nghiệm báo cáo và loại thị trường chứng khoán thuộc nhóm biến kiểm soát môi trường tổ chức đều có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng phát hành báo cáo CSR. Trong nhóm biến độc lập, giám đốc điều hành là thành viên tổ chức chính trị và hiệu quả doanh nghiệp (thông qua 2 biến ROA và slack resources) có tác động tích cực đến việc phát hành báo cáo CSR trong khi tuổi doanh nghiệp và sở hữu tư nhân có tác động tiêu cực. Kết quả mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất cho thấy các doanh nghiệp có lãnh đạo nhiều kinh nghiệm chính trị và mức độ phát triển của khu vực mà doanh nghiệp có trụ sở chính có tác động tích cực đến mức độ thông tin trách nhiệm xã hội được công bố trong báo cáo CSR. Đối với biến sở hữu tư nhân mặc dù theo mô hình không có ý nghĩa thống kê, nhưng theo kết quả kiểm định của các nhân tố thuộc chính trị đã có sự ảnh hưởng vừa phải của sở hữu tư nhân đối với việc báo cáo CSR, cho thấy rằng phản ứng của doanh nghiệp với chính trị không phải là một quá trình đơn giản.
Các doanh nghiệp đối mặt với các áp lực khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của chính doanh nghiệp. Một đặc điểm đặc biệt của Trung Quốc là luôn có sức ép lớn từ chính trị với những doanh nghiệp có sở hữu nhà nước. Như vậy, ảnh hưởng từ chính trị không thể được xác định chính xác nếu không am hiểu đầy đủ nền tảng, tình hình và vị trí của doanh nghiệp cũng như sự phụ thuộc chính trị của doanh nghiệp. 123doc 9 Bài nghiên cứu “Corporate social responsibility reporting and firm performance: evidence from China” của nhóm tác giả Suwina Cheng, Kenny Z.
Lin và William Wong công bố trên tạp chí Journal of Management & Governance, số 20, trang 503-523 năm 2016. Nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa việc phát hành báo cáo trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Thượng Hải tại Trung Quốc trong 2 năm 2008 và 2009 trên các khía cạnh thu nhập kế toán, lợi tức thị trường và sự tăng trưởng. Phương pháp nghiên cứu sử dụng hồi quy dữ liệu bảng (Panels data) nhằm trích xuất kết quả nghiên cứu thực nghiệm. Mô hình hồi quy bao gồm các biến đo lường hiệu quả của doanh nghiệp (ROA, Return, TobinQ) và các biến kiểm soát bao gồm quy mô doanh nghiệp (Size), tỷ lệ nợ trên tài sản (Debt), sở hữu nhà nước (SOE), sở hữu nước ngoài (FOR), năm khảo sát (Year09) và ảnh hưởng ngành (IND).
Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả hoạt động và quy mô doanh nghiệp tác động tích cực và quan trọng đến báo cáo độc lập CSR trong khi tỷ lệ nợ trên tài sản (Debt), tác động tiêu cực. Kể từ giữa những năm 2000, trách nhiệm xã hội ở Trung Quốc đã được giám sát chặt chẽ từ công chúng và giới truyền thông. Chính phủ Trung Quốc đã xây dựng các quy tắc và hướng dẫn CSR khác nhau để nâng cao nhận thức và mối quan tâm của các doanh nghiệp đại chúng.