CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN LIEN QUAN TỚI DE TÀI 1. Khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Truyền thông Về khái niệm truyền thông, trong diễn tiến lịch sử tới hiện tại, có rất nhiều học giả đã đưa ra sau nhiều nghiên cứu. Truyền thông theo tiếng Anh là “communication”, có nghĩa là sự truyền dat, thông báo, giao tiếp, trao đối, liên lạc.
Thuật ngữ truyền thông có nguồn gốc từ tiếng Latinh “communicare” với nghĩa là “chung” hay “cộng đồng”. Tức từ xưa, thuật ngữ này đã mang nội hàm về nội dung, cách thức hay phương tiện để đạt tới sự hiểu biết lẫn nhau giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thé, cá nhân với cộng đồng xã hội. Nhờ truyền thông - giao tiếp mà con người tự nhiên trở thành con người xã hội. Ordway Tead (1959) đưa ra khái niệm về truyền thông: “Truyền thông là sự tong hợp của thông tin đưa đi và nhận lại về kiến thức kinh nghiệm nào đó, nhằm thay đổi thái độ, kiến thức và kỹ năng, kéo theo đó là sự thay đổi về hành vi.
Truyền thông gồm những nỗ lực lắng nghe của các bên tham gia, sự giám sát liên tục các van dé của của người giao tiếp va sự trao đổi nhạy bén các quan điểm cá nhân nhằm đạt đến mức độ cao hơn của sự hiểu biết chung, từ đó đạt được mục tiêu chung” [4; tr. Keith Davis (1967) nhận định khái niệm này như sau: “Truyền thông là quá trình truyền thông thông tin và sự hiểu biết từ người này sang người khác” [4; tr.16] Tác gia Pearson va Nelson (2000) chỉ ra rằng: “Truyén thông được định nghĩa như một quá trình của sự hiểu biết và chia sé quan điểm ” [4; tr. Trong đó, hai tac giả cũng nhận định quá trình truyền thông là hoạt động sôi nổi, khó có thể miêu tả chính xác bởi quá trình này luôn vận động và thay đổi. Theo tác giả Dương Xuân Sơn (2015): “Truyền thông là một hoạt động gắn liền với lich sử phát triển của loài người.
Truyền thông là một quá trình liên tục trao đối hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau dé dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức” [35; tr. Trong nghiên cứu của mình, tác giả cũng nhận định khái niệm cơ bản về truyện thông có thê hiêu trên nhiêu góc độ 14 khác nhau. Cụ thể, ở theo John R. Hober (1954), ở góc độ ký hiệu lời: “Truyền thông là sự trao đổi với tư duy hoặc ý tưởng bằng lời”.
Ở góc độ dẫn dắt, theo Cartier và Hanoov (1950) chỉ ra: “Truyền thông là quá trình dẫn dắt sự chú ý của người khác nhằm mục đích trả lời sự mong mỏi”. Từ những định nghĩa trên, có thê thấy sự đa dạng của truyền thông, do đó những nghiên cứu về truyền thông mang tính chất liên ngành. Đồng thời theo tác giả, ở định nghĩa trên về truyền thông, cần chú trọng tới các khía cạnh khác nhau. Cu thé như sau: Truyền thông là một quá trình, tức quá trình này diễn ra liên tục, không giới hạn trong một khoảng thời gian, và có thể diễn ra ở bất cứ nơi đâu.
Đặc biệt, quá trình truyền thông không kết thúc ngay lập tức ngay sau khi truyền đi nội dung hay thông tin nào đó mà còn tiếp diễn sau đó. Có ít nhất hai thực tế tham gia quá trình truyền thông, cả hai bên đều cùng cho và nhận, không giới hạn số người tham gia quá trình này. Tiếp theo, truyền thông phải dẫn tới sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này quan trọng đối với mục đích và đánh giá hiệu quả của truyền thông. Yếu tố cuối cùng là truyền thông cần đem tới sự thay đổi trong nhận thức dé không biến quá trình này trở thành vô nghĩa, không có mục đích rõ ràng và cụ thể.
Dé quá trình truyền thông được diễn ra cần có đầy đủ các yếu tố cấu thành. Theo đó, có 4 yếu tố cơ bản đều tiến hành quá trình truyền thông. Các yếu tố trong quá trình truyền thông bao gồm: Nguồn (Source) hoặc người gửi, người cung cấp (Sender): Là yếu tố bắt nguồn quá trình truyền thông, bắt đầu từ hoạt động nói, chia sẻ, vẽ, viết,. Người gửi, người cung cấp này có thé là một cá nhân hoặc tập thể, hoặc một cơ quan báo chi, đài phát thanh - truyền hình, co quan thông tan, cơ quan phát ngôn.
Thông điệp (Message): Là yếu tố quan trọng trong quá trình truyền thông. Thông điệp có thé được thê hiện dưới dạng sé, chữ, hình vẽ, nói khái quát là thé hiện dưới bất cứ hình thức nào mà người nhận thông điệp có thể hiểu được và nhận được ý nghĩa. 15 Kênh truyền (Channel): Thông điệp được tới với người nhận thông qua kênh truyền. Kênh truyền hay mạch truyền là cách thé hiện thông điệp dé con người thấy được qua các thê loại in hay hình ảnh trực quan, qua các giác quan.
Người tiếp nhận (Receiver): Là những người tiếp nhận thông điệp, người giải ma, giao tiép, có thé là một cá nhân hoặc một tập thể. Với bốn yếu tổ trên, quá trình truyền thông được diễn ra theo các bước nhất định. Có thể hiểu quá trình này theo mô hình truyền thông của Harold Lasswell với sự bồ sung thêm hiện tượng nhiễu (Noise) và phản hồi (Feedback). Thông điệp H Tgười nhận Phương tiện truyền thông Hình 1.1: Mô hình truyền thông [4] Hiện tượng nhiễu (Noise): Là hiện tượng thông tin truyền di bi ảnh hưởng bởi các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật, gây ra sự sai lệch thông tin hoặc làm giảm chất lượng thông tin.
Theo các nhà nghiên cứu chi ra, các dang nhiễu có thể thuộc vật lý, môi trường, lứa tuổi, ngôn ngữ,. Yếu tố nhiễu cũng được coi là quy luật của quá trình truyền thông. Giải mã (Decode): Là quá trình người nhận giải mã thông tin dé tiếp nhận thông điệp. Mỗi thông điệp có thé được tiếp nhận theo nhiều cách hiểu khác nhau tuỳ vào nhận thức, kiên thức va cách suy nghĩ của người nhận (Receiver).
16 Phản hồi (Feedback): Đây là dòng chảy thông tin mà những bước đi từ thông tin tdi các nơi tiếp nhận và ngược lại. Phản hồi được thực hiện khi người tiếp nhận thông tin (Receiver) đã giải mã (Decode) được thông điệp. Phản hồi cũng được coi là khía cạnh quan trọng của quá trình truyền thông. Trong mô hình truyền thông, thông điệp truyền thông là yếu tố quan trong được mã hoã bởi người gửi và sau đó được giải mã bởi người nhận.
Mỗi thông điệp được người tiếp nhận nghiên cứu và chỉ biết được hiệu quả của nó khi người tiếp nhận có phản hồi. Tức muốn quá trình truyền thông có kết quả tốt, cần phải củng cố các yếu tố nói trên. Đề đảm bảo thông điệp có hiều quả, quá trình mã hoá của người gửi phải ăn khớp với quá trình mã hoá của người nhận. Thông điệp về cơ bản phải là những tín hiệu quen thuộc đối với người nhận thì thông điệp càng có hiệu quả.
Điều này đặt ra một van đề cần giải quyết cho những người truyền đạt thông tin từ một tầng lớp xã hội (ví dụ như người quảng cáo) muốn truyền đạt có hiệu quả đến một tầng lớp xã hội khác. Nhiệm vụ của người gửi là đưa được thông tin của mình đến người nhận trong môi trường có rất nhiều nhiễu vì người ta bị tác động của hàng trăm thông điệp thương mại mỗi ngày và công chúng mục tiêu có thể không nhận được thông điệp gửi đến vì một trong ba lý do. Thứ nhất là sự chú ý có chọn lọc, nghĩa là họ chỉ nhớ một phần nhỏ thông điệp truyền đến họ. Do vậy người truyền thông phải thiết kế thông điệp làm sao để nó vần thu hút được sự chú ý mặc dù xung quanh có nhiều tác nhânlàm phân tán.
Sự chú ý có chọn lọc giải thích tại sao quảng cáo với tiêu đề đậm nét hứa hẹn một điều gì đó rất có nhiều khả năng được chú ý đến. Báo điện tử là một loại hình báo chí ra đời muộn hơn báo in, phát thanh va truyền hình. Sự ra đời và phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ của Internet đã tạo tiền đề phát triển vượt bậc cho báo điện tử trên nhiều quốc gia. Tờ báo điện tử đầu tiên ra đời là tờ Chicago Tribune vào tháng 5 năm 1992.
Ngày 6/2/1997, báo điện tử Qué Hương - báo điện tử đầu tiên tại Việt Nam chính thức được đưa lên Internet. Đây là cơ hội giúp báo được phổ biến rộng rãi cho kiều bào, đồng thời Tổng cục Bưu điện cũng chứng minh được lợi ích của Internet. Nhắc tới sự kiện quan trọng này, ông Mai 17 Liêm Trực - nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Bưu chính Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) cho rằng sau khi báo Quê hương được đưa lên mạng, những người phụ trách tư tưởng đã thấy được cái lợi của Internet và “mở đường” cho một loạt báo điện tử khác ra đời như bao Nhân dan, Lao động hay Vietnamnet. Trong điều 12 của nghị định 55/2001/NĐ-CP ngày 23/08/2001 của Chính phủ về Quản lý và cung cấp dịch vụ Internet, có ghi chỉ tiết: “Dịch vụ thông tin trên Internet là một loại hình dịch vụ ứng dung Internet, bao gồm dịch vụ phát hành bảo chi (báo in, bdo hình, bdo điện tử), phát hành xuất bản phẩm trên Internet và dich Vụ Cung cấp các loại hình điện tử khác trên Internet `.
Báo điện tử có các đặc điểm nổi bat so với các loại hình báo chí khác. Đầu tiên là khả năng truyền tải thông điệp đa phương tiện. Báo điện tử ngày càng phong phú, đa dạng hơn về nội dung và phương thức truyền tải. Nếu như trên báo in, người đọc tiếp xúc với thông tin qua chữ viết, hình ảnh có màu hoặc không màu, thì báo điện tử giúp độc giả tiếp nhận thông tin băng việc thực hiện đa thao tác như đọc tin, xem video, xem chuỗi hình ảnh cập nhật liên tục, xem số liệu dưới dạng infographic.
Báo điện tử xoá nhoà khoảng cách về không gian và thời gian, phát huy được nhiều ưu điểm nỗi bật. Tiếp theo là khả năng tương tác cao thông qua phan bình luận, giao lưu trực tuyến, hộp thư nhận phản hồi từ độc giả. Từ đó, thông tin đa dạng, đa chiều và được cập nhật liên tục. Cuối cùng là khả năng lưu trữ nguồn dữ liệu (data) lớn nhờ sự phát triển của công nghệ, công chúng có thể tìm kiếm và truy cập thông tin bài báo nhanh chóng nhờ thanh công cụ tìm kiếm, tìm kiếm theo từ khoá, chọn ngày tháng sự kiện diễn ra dé xem lại.
Tính đa phượng tiện là đặc điểm của thông tin trên báo chí.